Chân Trời Xa Xôi

Nam Thảo

Đêm đã về khuya. Bên ngoài bầu trời tối đen. Mấy ngọn đèn vàng mù mờ, yếu đuối, không đũ sức soi sáng con đường bị sương sa phủ đầy.

Trong căn phòng chật nhõ cô liêu, tiếng tích-tắc cũa chiếc đồng hồ quả lắc đang nhịp đưa thời gian vào thanh vắng. Trong những giây phút lặng nín của địa đàng, Phương ngồi nghe tiếng hát Thái Thanh nức nỡ: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi ! Tiếng ru muôn đời… ”

Âm thanh của tiếng hát dật dờ bay xuyên qua lặng lẽ như những tiếng khóc than đang rung rẩy, tỉ tê một nỗi niềm trung trinh gởi theo gió mây hư vô.

Phương bổng nhớ đến quê hương Việt Nam thân yêu và nhớ đến tiếng ru ngập tràn tình thương yêu dịu vợi của mẹ. Anh cảm thấy linh hồn của mẹ Việt Nam và của người mẹ hiền như mãi mãi quyện theo từng hơi thở của anh, kết tụ trong trái tim anh một hạt ngọc lưu ly vô giá.

Bầu không gian gần như lặng lẽ của đêm khuya ở ngoại ô thành phố bổng nhiên bị những tiếng pháo ăn mừng của ai nỗ rền trời ngoài kia làm rạn nứt một cách tức tửi. Những chiếc pháo bông đủ màu sắc được ai bắn xẹt lên cao, vẻ lên khung trời tối những hình thù tan nát, chói chang, phù du.

Phương đứng dậy bước lại kéo chiếc màn cửa sang một bên để nhìn rỏ thêm những ánh sáng bay chạy tứ tung. Anh muốn nhìn những vệt sáng nầy trong khoảnh khắc để chạy trốn đi một hiện thực phủ phàng cho tâm hồn được chút đỉnh nhẹ nhàng, trống rổng.

Có lẽ chiều nay vì ăn cơm không được nhiều, nên Phương bổng thấy bụng đói. Anh bước vô nhà bếp nướng hai miếng bánh mì sandwich ăn với thịt nguội. Ăn xong và sau khi cạn một ly sửa lạnh, anh thấy lòng yên ổn. Ăn no, được sưởi ấm: thế là đầy đủ quá rồi. Còn có ngũ kỹ hay không, xưa nay đối với anh vẩn không phải là vấn đề quan trọng.

Từ ngày nào cho đến khi phải trải qua những tháng năm lưu lạc xứ người, Phương thích sống an phận thủ thường. Anh nhìn xuống, nhìn ngang, nhìn xiêng xiêng, rồi nhìn lại mình. Phương tự thấy quá thỏa mãn với cái vị trí vô cùng may mắn của mình. Anh đưa tay đón nhận những gì Trời cho và không ao ước đòi hỏi hơn những gì mà anh hiện có trong hạnh phúc. Phương an phận theo tình và lý của cuộc đời với quan niệm: định mệnh là cái gì vừa có vừa không.

Cứ thế mà Phương lây lất theo dòng đời trôi mau như nhật nguyệt. Những tháng năm ly hương trong hoàn cảnh ngoài ý muốn mang lại cho Phương một cuộc đời với hai kiếp sống: một kiếp sống vui với đời và một kiếp sống buồn với đời. Vui với đời thì không được bao nhiêu. Còn buồn với đời thì anh mong đừng còn nhiều lắm. Nhiều khi Phương cảm thấy tâm linh của mình như bị hao mòn, cằn cổi theo thời gian như những cây già trong cơn mưa bảo, như những hòn đá đầy rong rêu lạnh lùng trơ lặng nằm yên dưới sương rơi tuyết đổ dải dầu.

Có lúc Phương tự hỏi: “Tại sao mình không luôn vui sống với đời ? U sầu tự tâm chỉ làm hại cho hình hài và tâm hồn. Đời người có được bao lâu…Thế giới vạn vật đều là vô thường, vô ngã và khổ. Tâm an là Niết Bàn.

Biết như vậy, nhưng anh không sao trốn thoát và chống chỏi lại được cái lẽ sống ngoan cố kỳ lạ cứ đeo đuổi theo anh. Phương thích được thấy vui trong cái buồn và được thấy buồn trong cái vui. Trên con tàu định mệnh, Phương chấp nhận đó là một lẽ sống đầy hạnh phúc của riêng mình. Anh chấp nhận một lẽ sống quái đời như một chân lý cho rằng có hoa nào không tàn, có tình nào không phai.

Trong những chuổi ngày ly hương ngắn dài theo tâm tư, có lần anh gặp một người đồng hương trong một buổi chiều đông âm u tuyết trắng. Cả hai nói chuyện trên trời dưới đất, từ Putin đến Obama, từ Iraq đến Iran, từ Bắc Hàn đến Nam Hàn, từ Sài-Gòn đến Cần Thơ, từ chuyện nầy đến chuyện kia. Lần mòn rồi chuyện hết.

Cuối cùng, không biết nghĩ về cái gì mà người đồng hương thở dài với Phương trước khi chia tay: “Làm người Việt Nam khổ quá anh ơi! Mong kiếp sau tôi khỏi làm người Việt Nam nữa!”.

Anh chào Phương và lủi thủi bước đi không ngó lại. Phương nhìn theo người đồng hương, thấy lòng bùi ngùi, bâng khuâng. Anh thì thầm một mình như hơi gió thoảng: “Bạn ơi! Good Luck!”

Sau đó, Phương bỏ hai tay vào túi áo cho đở lạnh, chậm bước trên con đường đầy tuyết phủ mà không biết sẽ đi về đâu. Anh cứ đi.

Tuyết trắng bay bay phủ ngập trời

Đông về xứ lạ lạnh tàn hơi!

Người đâu chẵng thấy đường trơ trắng!

Ai đó không nghe gió rụng rời!

Rồi anh nghĩ lại lời ao ước “không muốn làm người Việt Nam ở kiếp sau” của người đồng hưong vừa từ biệt. Trong đầu anh, Phương lại ao ước khác với người đồng hương. Anh ao ước kiếp sau lại được sanh trở lại làm dân a-na-mít nữa. Rồi Phương mĩm cười vu vơ: “ Nếu kiếp sau được đầu thai làm dân Tây, rủi ro không dám húp nước mấm, ăn mấm ruốc, mấm tôm, thì thế gian và cuộc đời nầy còn ra cái nghĩa lý gì! “.

Như quả bong bóng bay lững lờ trong gió và có những lúc cô đơn trong lạnh lùng, Phương thích một mình ngồi thả hồn về kỹ niệm để nhớ lại những khuôn mặt thân quen của bạn bè thuở còn xanh tóc ở quảng đời chỉ có cười đùa cả ngày lẫn đêm.

Phương cảm thấy thương nhớ những thằng bạn xấu số hơn mình mặc dù cái số long đong nơi xứ lạ quê người của anh không biết sẽ đi về đâu! Cứ hết mùa thu nầy đến mùa hạ kia, anh vẩn còn đây làm kiếp đời của một loài chim biển kêu than trên dòng sông nước lạnh mù sương.

Có khi bên dòng sông lặng lẽ ngoài kia, trong hơi lạnh của chiều đông mưa bay lớt phớt, Phương một mình thầm lặng đứng nhìn trời, nhìn mây và nhìn những giọt mưa buồn rơi rơi lên sóng nước cho hồn phiêu du trở về thăm lại dĩ vàng xa xưa.

Phương có một anh bạn học nghèo nàn thân thiết, nghèo như anh, tên là T. Chiến tranh đã cướp mất T lúc quê hương Việt nam còn trong dầu sôi lữa bỏng. Phương và T có nhiều kỹ niệm điên khùng với nhau lúc hai đứa còn là học sinh của một trường trung học tỉnh.

Có lần ngồi uống nước mía ở một quán nhõ dưới chân một cầu đúc ở tỉnh, hai đứa nhìn những cô bạn nữ sinh cùng trường cắp sách qua lai nhỡn nhơ. Phương không còn nhớ câu chuyện bắt đầu từ đâu mà vấn đề “Sanh-Lão-Bệnh-Tử” lại được đề cập đến. Trong cơn mê muội nào đó, T bổng nhiên tâm sự cùng Phương. Giọng nói của T giống như giọng nói của một ông già từng trải, bị bầm vập với đời, chán ngán cho nhân tình thế thái, muốn đi tu:“Cuộc đời thiệt là dẫy đầy những khổ đau!. Kiếp sau tao muốn làm một hạt cát nằm trên con đường nầy để cho những người đẹp kia đi qua đi lại, chà đạp, dày vò lên thân xác mỗi ngày. Như vậy còn sướng hơn!”.

Lúc bấy giờ nghe T phát biểu cái “nhân sinh quan” độc đáo của mình, Phương cười ngất và chỉ nghĩ T chỉ là một con quỷ, một con ma nói “chuyện trời ơi đất hởi”cho qua ngày đoạn tháng. Nhưng hôm nay sống trong cái cảnh “lãng du cứ gọi cho là”, Phương nghĩ T đả nói đúng! Thà làm hạt cát bị chà đạp còn hơn phải buồn đau dai dẵng tháng ngày mỗi khi đối diện với quá khứ, hiện tại và tương lai của mình và thời cuộc như hôm nay.

Có đêm Phương đếm bước trên phố lạ cô đơn, anh cảm thấy thương nhớ quê hương và mẹ hiền biết bao.

Chân mây góc biển đêm ngày

Nhớ quê lệ nhõ dấu dài tháng năm

Tiếng pháo ngoài kia vẩn còn nỗ. Những tia sáng đủ màu như ánh hào quang vẩn còn bắn vọt lên vòm trời đêm. Phương lại bước ra đứng bên cửa và đứng ở nơi đó lâu lắm. Anh đứng nhìn vào khoảng không đen tối sâu thẩm để chờ thấy những tia sáng mầu nhiệm từ những trái pháo bay nỗ về khuya.

Nam Thảo