Đỉnh Sương Mù

Đỉnh Sương Mù

Duy Xuyên
Tacoma

Chương Một
Mẹ già

Tôi, Hạ Hạ sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo.
Cha mất từ năm 1951 trong cuộc chiến Việt Nam, khi Mẹ còn rất trẻ.
Mẹ phải thay cha bảo dưỡng và nuôi nấng khi tôi vừa mới sinh ra đời chưa tròn ba tháng. Tuổi thơ của tôi đã sống với những ngày bất hạnh, cơm không đủ no, áo mặc không đủ ấm. Mẹ phải buôn thúng bán bưng, mới đủ tiền cho tôi ăn học.
Mẹ thường tâm sự với tôi:
– Con phải học cho thật giỏi, để tương lai của con mới sung sướng được! Con nghe mẹ nói chưa Hạ Hạ?
-Dạ, con nghe rồi Mẹ ạ.
Tôi chưa bao giờ có khái niệm học đến đâu mới gọi là giỏi. Nhưng nghe lời Mẹ, tôi cố học đến khi thi đậu Tú Tài Toàn Phần.
Trước năm 1965, miền Nam Việt Nam có rất ít trường đại học.
Hồi đó, các trường đại học không thu học phí như bây giờ. Các sinh viên chỉ phải đóng tiền ghi danh cho mỗi niên khóa.

Tôi nhận kèm thêm một vài em học sinh Trung-Tiểu Học để có tiền theo bậc đại học và không phụ lòng hy sinh của Mẹ. Đường học vấn tuy gặp nhiều gian khổ nhưng cũng trôi nhanh, cuối cùng tôi cũng tốt nghiệp Cử Nhân Triết vào năm 24 tuổi.
Tôi làm đơn gởi cho Bộ Quốc Gia Giáo Dục, tại số 7 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn, xin dạy học tại bất cứ nơi nào cũng được.
Đơn vừa nộp, sau hai tuần lễ, tôi được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ dụng lên Đà Lạt, tỉnh Tuyên Đức, dạy môn Triết cho trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân.
Khi làm đơn xin dạy học, tôi chỉ mong kiếm được việc làm ở một nơi nào đó, tại Sài Gòn, Chợ Lớn hay Gia Định, Thủ Đức hoặc Biên Hòa, những nơi lân cận Sài Gòn, gần chỗ mẹ con tôi đang sinh sống. Tôi cứ tưởng, mình dạy học tại những nơi đó, chiều chiều sẽ về với Mẹ.
Nào ngờ, theo đơn xin việc của tôi, vì không nói rõ những địa điểm mà tôi muốn xin việc, do đó, việc bổ dụng một giáo sư mới ra trường như tôi phải đi làm xa: Đó là lỗi tại tôi hay cũng có lẽ… đây là duyên nợ đưa đẩy tôi vào một khối tình u uẩn, vừa hạnh phúc, chen lẫn với niềm đau của mối tình đầu mộng mơ, nhiều ngang trái.

(Rồi chuyện gì sẽ xảy ra khi Hạ Hạ đến Đà Lạt, tìm Đỉnh Sương Mù. Mời Quý độc giả, đọc tiếp Chương 2: Gặp Gỡ.)

Chương 2
GẶP GỠ

Tôi trao đổi với Mẹ, bà cũng đồng ý để tôi lên Đà Lạt dạy học và vài tháng về thăm Mẹ một lần cũng được. Hoặc trong ba tháng Hè, tôi về lại Sài Gòn, sống chung với Mẹ, và sau đó trở lên Đà Lạt tiếp tục việc làm, để cho Mẹ bớt khổ và tôi cũng có việc làm, để mưu cầu hạnh phúc mai sau.
Còn gần 2 tháng nữa, tôi mới phải trình diện với trường Bùi Thị Xuân.

Tôi dự định sẽ lên Đà Lạt trước, để thu xếp nơi ăn chốn ở và dự định đưa Mẹ theo sinh sống với tôi. Từ nhiều năm nay, Mẹ con tôi ở trong một căn nhà thật nhỏ, lụp xụp, xiêu vẹo. Vách tường được chấp vá bởi những tấm ván mỏng manh, gió lùa qua khe hở buốt lạnh. Mái nhà được lợp bằng những miếng tôn phế thải, nên mưa đến đâu, dột đến chỗ đó!
Mẹ tảo tần hằng ngày hai buổi. Sáng bán xôi đậu xanh trước con hẻm nhỏ, trên đường Bùi Viện Sài Gòn. Chiều Mẹ quảy gánh đi bán dạo quanh vùng.
Mẹ phải lặn lội từ bên này con đường đến bên kia khu lao động, mãi đến gần nửa khuya mới về đến nhà.
Mẹ tôi vừa đặt lưng trên chiếc giường gỗ ọp ẹp thì trời cũng vừa hừng đông.
Mẹ lại thức dậy, tiếp tục vo nếp nấu xôi cho một ngày mới bắt đầu.
Cuộc sống lao đao, vất va vất vưởng trăm chiều nhưng Mẹ chưa có lần nào than thân trách phận. Mẹ chỉ khuyên tôi ráng đỗ đạt để có được hạnh phúc trong tương lai.

Chuyện gì cũng bắt đầu từ ngày ấy…
Sáng hôm đó, tôi tình cờ đọc được một tờ nhật báo cũ, có tin đăng:
“Cần một nữ giáo sư. Lương hậu.
Liên lạc: Biệt Thự Đỉnh Sương Mù, cây số 3, Quốc Lộ Đà Lạt-Sài Gòn, đối diện Cư Xá Sĩ Quan Ngự Lâm Quân. (cũ)”.

Vô cùng sung sướng, nên tôi bàn với Mẹ, tôi sẽ lên Đà Lạt nhận làm công việc này trong hai tháng hè, luôn tiện tìm nơi ăn chốn ở tại thành phố Sương Mù, để tiện đi đi về về khi đảm nhiệm dạy môn Triết tại trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân. Mẹ tôi cũng rất vui mừng khi nghe tôi bàn về việc này.
Thế là hai mẹ con chia tay vài ngày sau đó.
Mẹ tiễn tôi ra tận bến xe Sài Gòn – Đà Lạt.
Mẹ rưng rưng hai dòng lệ trên khuôn mặt nhăn nheo và Mẹ còn nhắc nhở tôi:
– Cẩn thận nghen con.
Mẹ trìu mến, dặn dò:
– Con gái của Mẹ, tuy 24 tuổi đời nhưng còn khờ lắm. Đường đời rất nguy nan. Con luôn cẩn thận nghen con!
Lần chia tay nào lại không buồn, hơn thế nữa, đây lại là lần đầu tiên tôi xa Mẹ, để thân gái dặm trường xa nhà, tự lập nơi xứ lạ quê người.
Phút chia tay bắt đầu với bàn tay khẳng khiu của Mẹ vẫy chào.
Tôi cố can đảm để những giọt lệ khỏi trào ra mi mắt cho Mẹ khỏi buồn. Xe bắt đầu nổ máy, bóng dáng Mẹ chỉ còn nhạt nhòa với mái tóc bạc phơ trong làn khói đen mờ ảo, cho đến khi dáng dấp hư hao của Mẹ không còn nữa, mất hút sau rặng cây ở vệ đường. Bỗng dưng nước mắt tôi tuôn trào.Tôi chưa bao giờ xa Mẹ. Ngồi trên xe, mà lòng quay về xóm nhỏ, đìu hiu. Đường đá gồ ghề lởm chởm như bàn tay xương xẩu của Mẹ già. Mẹ tôi đã không có một ngày nào vui. Mẹ lam lũ làm việc suốt ngày mà chỉ đủ cơm ăn. Tôi thương Mẹ, với những đêm mưa, Mẹ phải ngồi hứng nước mưa chỗ tôi ngủ, hoặc Mẹ phải lăn tôi qua, xích tôi lại để tránh những giọt mưa vô tình rơi xuống, ướt cả hồn tôi, những tháng ngày ấu thơ.

Đời sống của mẹ con tôi là thế đó! Mẹ sống và chờ đợi ngày Mẹ chết. Còn sống là còn thức khuya dậy sớm nấu từng nồi xôi. Cơm trưa, cơm tối gắn liền với rau muống luộc, chấm nước mắm pha loang loãng cho qua ngày. Dễ quá! Đêm về mẹ con tôi, xõng lưng chung với nhau trên chiếc giường gỗ, nằm nghe mưa dột. Dột chỗ nào tránh chỗ đó! Có lúc không còn chỗ nào để tránh, Mẹ và tôi, thức dậy, co quắp trong chiếc mền rách duy nhất còn lại …ngồi chờ sáng, để thấy mình còn sung sướng hơn những kẻ không cửa, không nhà!

Tuyến đường Sài Gòn- Đà Lạt cũng chẳng xa gì cho lắm.
Xe cũng chạy ngược chiều gió qua Định Quán, rồi xe lại rướn mình qua Bảo Lộc, đến Tùng Nghĩa, qua Liên Khương và tôi đã đi qua cây số 3 nơi có Cư Xá Sĩ Quan Ngự Lâm Quân hồi nào, tôi cũng không hay biết.
Khi xe ngừng tại khu phố Đà Lạt, trước bờ hồ Xuân Hương, gần chợ Hòa Bình Đà Lạt, tôi mới biết xe đã chạy qua nơi tôi muốn tìm đến.
Tôi là một cô con gái nghèo, chưa bao giờ son phấn, nên hành trang mang theo rất đơn giản, chỉ ba chiếc áo dài, cũng đủ cho tôi mặc trong một tuần lễ khi phải đi dạy học.
Tôi dự định khi có nơi ăn chỗ ở, tôi sẽ mua thêm quần áo và một ít vật dụng cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày.
Hành trang đưa tôi vào đời cũng gọn nhẹ như một người lính trận.
Là một sinh viên nghèo, tôi chưa bao giờ có một cái bóp đầm hay cái xách tay nào cả. Căn cước cá nhân hay giấy tờ tùy thân, tôi đều bỏ vào túi áo. Tôi chỉ cần ba chiếc áo dài trắng của thời nữ sinh trung học mãi cho đến thời vàng son của thời sinh viên đại học.

Hôm đó, tôi hỏi thăm các nhân viên trạm xe, và được biết nơi tôi muốn tìm đến cũng không xa bến xe Đà Lạt là bao nhiêu.
Nghe nói, từ trạm xe đến biệt thự Đỉnh Sương Mù, nếu đi bộ khoảng chừng 20 phút, nên tôi quyết định đến ngay chỗ đó xem sao.

Biệt thự nơi tôi muốn tìm đến cũng dễ thôi. Tôi đi một đoạn đường, leo dốc khá mệt rồi cũng đến.
Cư xá Sĩ Quan Ngự Lâm Quân rất rộng, nằm trên một ngọn đồi thoai thoải dốc, bên tay phải của Quốc lộ Đà-lạt-Sài Gòn.
Biệt Thự Đỉnh Sương Mù nằm phía tay trái của Quốc lộ.
Biệt thự ẩn mình, nằm cách đường Quốc lộ khá xa. Phải đi vòng vèo theo đường xoáy ốc, nên biệt thự rất cao, nằm chênh vênh trên một ngọn đồi thông heo hút.

Trước con đường vào biệt thự có một tấm bảng nhỏ, ghi chữ: Biệt Thự Đỉnh Sương Mù, với mũi tên trắng hướng dẫn đường vào.
Trên đường lên biệt thự, thỉnh thoảng, tôi nhìn thấy một vài tấm bảng ghi chữ: “Cẩn Thận. Đường dành riêng cho Biệt Thự Đỉnh Sương Mù. ”
Càng leo dốc càng cao, tôi mệt nhoài đến lã mồ hôi mà chỉ vừa leo lên được gần đỉnh đồi. Biệt thự sơn màu trắng toát, nằm khuất sau hàng dương phủ đầy bóng mát. Vừa đi, tôi vừa ngẩng đầu nhìn ngôi biệt thự đang đứng sừng sững phía trước mặt.
Bất ngờ, tôi nghe tiếng xe đang đổ dốc thật nhanh. Tôi vội ép mình vào lề đường để tránh xe. Nào ngờ, chỗ tôi đang lách mình để tránh xe là một chỗ đất đá gập ghềnh. Tôi bị mất thăng bằng và ngồi phịch xuống lề đường.
Một chiếc xe La-Đà-Lạt, do một phụ nữ rất trẻ lái, lao nhanh qua chỗ tôi đang loay hoay phủi những vết bụi trên tà áo dài. Thoáng chốc xe vòng quanh, ngừng lại trước mặt tôi.
Người đàn ông trạc độ 50, bước xuống xe, vội vàng đến chỗ tôi đang đứng ngơ ngác. Tôi chưa biết chuyện gì xảy ra. Người đàn ông, nghiêm nghị hỏi tôi:
– Có sao không cô bé?
Tôi chưa kịp trả lời, ông ta lại căn dặn:
– Cẩn thận nghen cô bé!
Tôi đang đứng phân vân tự hỏi, sao người đàn ông xa lạ này lại gọi tôi là cô bé?

Tôi còn trẻ lắm sao?
Theo tôi nghĩ, “cô bé” có nghĩa là còn trẻ lắm, dành cho các em nữ sinh trung Học. Còn tôi đã tốt nghiệp đại học, sao người đàn ông này lại gọi tôi là cô bé’?
Người đàn ông này hỏi tôi:
– Chứ cô bé không thấy mấy tấm bảng treo dọc đường đã ghi:
“Cẩn thận! Đường dành riêng cho Biệt Thự Đỉnh Sương Mù!”

Tôi còn bỡ ngỡ không biết phải đối đáp với người đàn ông này như thế nào? Nhưng ông ta vội hỏi:
– Mà cô đến đây tìm ai? Có việc gì không? Cô là sinh viên thanh nhạc hả?
Tôi rất ngạc nhiên, vì không hiểu tại sao ông ta nghĩ tôi là sinh viên thanh nhạc?
Sau này tôi mới được biết vợ ông là một giáo sư đang dạy nhạc tại Viện Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn.
Từ ngạc nhiên này, đến ngạc nhiên khác, tôi vụng về lấy mảnh giấy nhỏ có đăng tin quảng cáo: “Cần một nữ giáo sư”, đưa cho ông ta xem.
Người đàn ông chỉ liếc qua trang báo nhỏ, vừa trả lại cho tôi, vừa vui vẻ nói:
-May cho cô lắm đó. Chỉ trể chừng 15 phút nữa, cô sẽ phải đợi tôi đến 2 ngày, vì tôi phải đi Sài Gòn ngay bây giờ, để đón ‘nhà tôi’, cùng nghỉ cuối tuần.
Ông nhìn tôi nói tiếp:
-Thôi được, tôi sẽ trở về để bàn chuyện với cô cho xong việc, rồi sau đó tôi đi Sài Gòn cũng không muộn.
Nói xong, ông trở lại xe. Vừa đi ông vừa nói:
-Tôi về trước và chờ cô ở phòng khách nghen. Cô chỉ còn đi độ 50 mét nữa là đến nơi rồi.
Nói xong, ông cho xe trở về biệt thự và tôi lủi thủi kéo lê từng bước chân nặng nề. Đứng trước biệt thự, tôi như một người từ hành tinh xa xôi nào đó, đi lạc đến ánh sáng văn minh của loài người.
Chưa bao giờ tôi được trông thấy một ngôi biệt thự tráng lệ như vậy.
Bên trụ cửa ngõ, phía tay phải có gắn một tấm bảng bằng đồng, nằm ngạo nghễ, sáng chói với hàng chữ ‘Biệt Thự Đỉnh Sương Mù,’ làm tôi muốn chùn bước… Tôi sợ người đàn ông xa lạ đó, có vóc dáng như một tài tử màn bạc, vừa trang nhã, vừa như bất cần đời.
Nhưng đã đến đây, chẳng lẽ lại bỏ ra về. Hơn thế nữa, người đàn ông này đã quay lại và hẹn gặp tôi tại phòng khách.
Tôi ngần ngại nửa muốn vào nửa muốn không, nên tôi đứng tần ngần ở cánh cửa sắt đến vài phút mới quyết định phải vào biệt thự, như cái gật đầu của tôi, tỏ ý đồng ý gặp người đàn ông xa lạ đó tại phòng khách của ông ta.
Tôi đẩy cánh cửa sắt bước vào nhưng cánh cửa đã đóng thật chặt.
Tôi ngần ngại không biết cách nào để gọi người trong nhà ra mở cửa.
May mắn dấu hiệu ‘bấm chuông’ nằm kề cái bảng đồng không xa lắm.
Tôi đưa cả bàn tay ấn thật mạnh vào chuông điện, reo thật dài, bàn tay tôi mới chịu thả ra.
Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi mới biết bấm chuông và đứng đợi.
Người đàn bà trạc 60, thân hình mảnh khảnh như hạt sương mai, mái tóc lốm đốm ngả mầu muối tiêu, bước ra mở cửa cổng.
Miệng bà cười tươi như thân quen với tôi tự bao giờ.
Tay bà mở khóa nhưng mặt nhìn tôi vui vẻ nói:
”Giáo sư đang chờ cô !”
Vừa đến phòng khách, vú già mời tôi ngồi. Sau đó, bà rót hai tách trà, mang ra đặt trên salon.
Tôi chưa kịp ngồi xuống, người đàn ông mà vú già gọi là giáo sư, thong thả bước ra phòng khách. Ông tươi cười, nói nhanh:
-Chúng ta chỉ có 40 phút để thảo luận việc này, và sau đó tôi sẽ phải đi Sài Gòn gấp.
Tôi chưa kịp phản ứng ra sao. Ông vừa mời tôi uống trà, vừa nói:
-Tôi là giáo sư Minh. Còn cô?
Tôi đáp thật khẽ:
-Dạ. Tôi là Hạ Hạ.
-Cô đang dạy ở trường nào?
Tôi đáp:
-Dạ, thưa… tôi chưa dạy ở trường nào cả. Nhưng hết hè này, tôi sẽ dạy ở Bùi Thị Xuân.
Ông nghiêm nghị, hỏi tôi:
– Cô dạy môn gì?
– Dạ Triết.
Ông nhìn tôi một chập lâu, rồi thong thả nhìn sâu vào mắt tôi hỏi tiếp:
– Cô người Đà Lạt?
– Thưa giáo sư, không. Tôi cư ngụ tại Sài Gòn.
– Cô mới lên đây?
– Dạ đúng. Tôi vừa đến.
Giáo sư Minh tiếp:
– Tôi cần một người đọc sách cho tôi nghe và ghi chép lại những điều tôi căn dặn. Cô chịu nhận làm việc đó không?
Tôi không ngần ngại, đáp vội:
– Thưa giáo sư. Tôi nhận làm công việc đó.
Ông hỏi tôi:
– Tôi phải trả công cho cô một tháng là bao nhiêu?
– Tuỳ giáo sư.
Giáo sư Minh ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
– Theo tôi được biết, các giáo sư môn Triết mới ra trường, mỗi tuần chính thức chỉ được dạy 28 giờ. Ngoài ra phải kiếm các trường khác, để dạy thêm, Cô xin được trường nào nữa chưa?
Tôi như từ trên trời rớt xuống vì lần đầu tiên tôi biết được chuyện này. Nên tôi chưa biết phải quyết định ra sao? Ông từ tốn nói:
– Nếu dạy 28 giờ thì mỗi tháng cô chỉ được nhận lương 3.000$ 00. Nhưng tôi sẽ trả cho cô mỗi tháng 5.000 $.00
Tôi ngạc nhiên vô cùng và đang phân vân vì không biết, mình sẽ làm những gì, mà giáo sư Minh, trả lương cho tôi cao như vậy! Tôi trầm ngâm một hồi, rồi khẽ gật đầu.
Ông nói:
– Thôi cô thu xếp công việc của cô. Tôi phải đi Sài Gòn ngay bây giờ.
Giáo sư Minh đứng dậy, giơ tay cho tôi bắt nhưng sực nhớ ra điều gì, ông hỏi:
– Cô hiện nay ở đâu, để chúng tôi dễ liên lạc với cô?
Tôi suy nghĩ một chập lâu sau, rồi đáp:
– Tôi chưa biết.
Ông ngạc nhiên:
”Sao vậy?
– Tôi vừa đến Đà Lạt và đến ngay đây! Tôi sẽ tìm nơi cư trú sau, thưa giáo sư.
– Cô ở lại đây với chúng tôi được không?
Tôi mừng rỡ đáp vội:
– Dạ thưa giáo sư. Được giáo sư cho tôi ở tạm nơi đây, tôi vô cùng cám ơn giáo sư.
Ông nói rất nhanh, như vội vàng:
– Cô theo tôi.
Ông đưa tôi vào một căn phòng trống với một chiếc giường nhỏ, thật xinh. Ông nói vội:
– Tạm thời cô ở tại căn phòng này.
Nói xong, ông đưa tôi vào phòng để chỉ cho tôi cách xử dụng các vật dụng trong phòng. Bỗng chốc, khi tôi vừa đến nơi chiếc giường ngủ, vừa lúc đó, cửa phòng tự động đóng kín lại. Hồn vía tôi lên mây.
Tôi cố nép mình vào vách với tư thế phòng ngừa.
Ông biết tôi sợ, nên nói thật to:
– Đừng sợ! Tôi không làm hại cô đâu!
Nói xong, ông vội bước đến cửa phòng đang khép kín. Ông mở rộng cánh cửa và bật đèn trong phòng sáng lên.
Trong khi đó, phản ứng tự nhiên, tôi đang nép mình trong một góc phòng. Hai tay ôm chặt lấy ngực. Mặt tôi xanh như tàu lá chuối.
Tim tôi đập mạnh, hơi thở dồn dập, khó chịu. Hai chân tôi muốn quỵ xuống đất. Thân thể tôi không còn giữ được thăng bằng, làm tôi muốn xỉu. Ông sợ tôi té, nên vực tôi bằng cách giữ hai cánh tay tôi thật chặt và dìu tôi đến giường.
Khi tôi ngồi được trên mé giường, ông gọi vú già thật lớn:
– Bà Hai ơi! Mang lên cho tôi một ly nước lạnh. Mau lên! Mau lên bà Hai!
Thoáng chốc vú già mang nước lên. Ông bảo vú già:
– Bà giúp giùm, cho cô ấy uống hết ly nước.
Vú già đặt ly nước vào môi, tôi hớp mạnh một vài hớp nước và thấy người khoẻ lại. Lúc bấy giờ, tôi ngước lên, thấy gương mặt ông còn xanh xao hơn tôi.
Ông vội hỏi:
– Cô có sao không? Cô khoẻ lại chưa?
Tôi gật đầu:
– Cám ơn ông. Tôi không sao!
Tôi chống chế:
– Có lẽ tôi trúng gió.
Ông hỏi:
– Cô thấy trong người cô có sao không? Hay tôi đưa cô đến Phòng Cấp Cứu?
Tôi sợ làm ông ngại và sẽ không giao việc cho tôi làm, nên sắc mặt tôi tươi hẳn lên:
– Cám ơn ông, tôi khoẻ rồi.
Thật tình tôi cũng biết, ông hiểu vì cánh cửa phòng tự nhiên bất ngờ đóng sập lại, làm tôi sợ.
Ông thấy tôi tỉnh lại, nên quay qua nói với vú già:
– Tôi phải đi ngay bây giờ. Vú già săn sóc Hạ Hạ giùm tôi.
Lần đầu tiên tôi nghe ông gọi tôi là Hạ Hạ.
Tôi nghĩ: ”Người đàn ông này phải có cái gì đó thật bí mật, cũng thay đổi thật nhanh và thật bất ngờ. Từ cô bé, đến tiếng cô trống rỗng, đến Hạ Hạ và chừng nào ’em’ đây?
Sau ít phút ông căn dặn vú già, săn sóc tôi cẩn thận và ông chào tôi để đi Sài Gòn.
Ông không quên chìa tay cho tôi bắt.
Tôi cảm thấy bàn tay ông mềm, ấm áp làm cho tôi cũng bớt lo sợ hơn.

Ông đi rồi. Vú già hỏi tôi:
”Mời cô xuống phòng ăn. Chúng ta cùng dùng cơm tối.
Nghe vú già nói, tôi mới nhớ ra, từ sáng sớm đến giờ, tôi chưa có gì trong dạ dày, nên đói và xỉu thì đúng hơn là vì tôi sợ.
Cũng có lẽ cả hai điều trên, đến cùng một lúc với cơ thể tôi mệt nhoài vì chuyến xe trên đường dài mà tôi thì chưa có chút gì cầm hơi, nên xỉu là phải.

Tôi định đi theo vú già xuống phòng ăn, nhưng chợt nhớ ra mình còn đang mặc áo dài trắng. Tôi ngước nhìn vú già. Bà hiểu ý, bước ra khỏi phòng. Vừa đi bà vừa nói:
– Tôi đợi cô bên ngoài. Khi nào xong, cô ra ngoài đi với tôi đến phòng ăn nhé.
Một mình tôi trong phòng, tôi mới thấy chiếc áo dài của tôi thật nhăn nheo sau một ngày trên chuyến xe chật ních người.
Hơn thế nữa, vạt áo phía sau bám đầy bụi bẩn. Tôi thấy thẹn và không biết ông Minh nghĩ mình ra sao?
Thay xong quần áo, tôi vội bước ra khỏi phòng. Vú già cũng đang đứng chờ. Bà đưa tôi đến phòng ăn.
Lần đầu tiên, tôi thấy một phòng ăn sang trọng như thế này.
Gia đình tôi nghèo, nên các bạn mà tôi quen trong những năm đại học cũng nghèo. Nhà các bạn cũng chỉ hơn nhà tôi một chút chứ cũng chẳng sang trọng gì. Có những đứa từ miền Trung hay Lục Tỉnh, đến Sài Gòn học, còn xơ xác hơn tôi nhiều.
Tôi không có dịp giao tiếp với những người giàu có, sang trọng trong xã hội, nên Biệt Thự Đỉnh Sương Mù là những gì vừa bí mật như ma quỷ vừa trang trọng như cung đình vua chúa, với những điều tôi chưa hiểu. Nó cũng đơn giản nhưng thật thanh cao. Nó nề nếp nhưng thật vô cùng lãng mạn. Tôi đang đói, nên phải tìm cái gì để ăn.
Như tôi đã kể. Phòng ăn quá sang trọng.
Tôi ngồi ăn một mình mà lòng thấy nao nao! Sao những thức ăn ngon như vầy lại không có Mẹ!
Ước gì mai đây mốt nọ, tôi cũng sẽ cùng Mẹ ngồi ăn chung với nhau, trong một căn phòng sang trọng như thế này, để đền bù cho Mẹ, những ngày dầm mưa dãi nắng, đội xôi đi bán dạo quanh năm. Nghĩ thế mà lòng tôi se lại.
Thức ăn chiều hôm đó quá nhiều.
Món cánh gà chiên bơ, vàng lượm như thách thức môi miệng tôi.
Một tô ‘súp’ thật to, đặt trong một bát sành, có tám ông tiên quảy rượu lên rừng. Một lát cá thu chiên, xốt cà chua còn nóng hổi.
Tôi liếc mắt đếm. Cả món tráng miệng bằng táo trắng nữa là sáu món. Nhớ lại mới ngày hôm qua thôi, với những tháng năm chồng chất lên vai Mẹ, mỗi bữa cơm, chỉ có rau muống với nước mắm. Thế cũng ngon lắm rồi. Thỉnh thoảng Mẹ mới cho ăn cơm với mực muối mặn thì cơm lại sạch nồi. Mới hôm qua, bữa cơm chiều còn thiếu thốn, mà chiều nay lại dư thừa.Vú già không ngồi chung với tôi, mặc dù tôi nài nỉ mãi, nhưng vú già vẫn từ chối.
Bà còn căn dặn tôi: – “Cô là khách của giáo sư. Còn tôi luôn luôn phải giữ tư thế của ‘vú già’!”
Tôi nghe bà nói như vậy nên đành ngồi ăn một mình.
Món ăn nhiều quá! Món nào cũng ngon. Đây là lần đầu tiên tôi có một bữa ăn thịnh soạn như vầy. Món nào tôi cũng ăn cho biết.
Tôi cố ăn theo kiểu cách của một nhà quý phái nhưng tay chân tôi vẫn vụng về, lấn cấn.
Trên bàn ăn, đặt đến 5 cái dĩa đủ cở và 4 cái muỗng đủ loại, từ nhỏ đến lớn. Một con dao ăn và một cái nĩa. Các thứ đã được tráng nước sôi và xếp bên tay phải của tôi.
Tôi không tìm thấy một cái chén nào, nên định hỏi vú già nhưng tôi sợ hỏi ra không đúng cách.
Tôi cũng không biết dùng cái dĩa nào trước với muỗng nĩa nào, nên còn chần chờ.
Tôi định ăn món cá với cơm trước, vì cá thu chiên xốt cà chua còn đang bốc hơi, mùi thơm tỏa ra bát ngát bờ môi. Tôi nhìn quanh chẳng thấy một cái chén nào để xới cơm.
Vú già biết ý, nên bà rời bàn đến giúp tôi:
Bà lấy một cái dĩa trên bàn với một cái muỗng to nhất. Bà múc súp trong tô ra dĩa và hỏi tôi:
– Cô dùng thêm tiêu không?
Tôi đáp khẽ như lưỡng lự:
– Dạ cám ơn vú già.
Tôi vừa nói xong, bà rắc một ít hạt tiêu vào đĩa súp cho tôi.
Tôi định lấy cái muỗng mà bà vừa múc súp cho tôi. Vú già lại giúp tôi, lấy một cái muỗng khác, bà đặt nhẹ trên đĩa súp. Tôi hiểu ý nên múc súp ăn. Súp còn nóng, quá ngon.
Vừa húp súp, tôi vừa nhìn vú già nói:
– Vú già nấu súp ngon quá!
Vú già ôn tồn đáp:
– Cám ơn cô! Không phải tôi nấu đâu.
Cô bếp nấu các thức ăn đó!
Tôi tò mò:
– Cô bếp tên gì? Thưa bà?
– Ấy chết! Đừng gọi tôi là Bà nghen cô. Tiếng Bà chỉ để gọi Phu Nhân thôi.
Vú già tiếp:
– À! Nhà này, ngoài tôi ra, còn có cô bếp, cô tài xế và bây giờ thêm cô giáo sư nữa là 4.
Tôi ngơ ngác không biết tại sao, vú già lại biết tôi là giáo sư?
Nhưng tôi đoán có thể trước khi đi, ông chủ có dặn vú già săn sóc tôi và ông đã nói với vú già về việc làm của tôi trong ngôi biệt thự này.
Tôi vội lên tiếng:
-Còn phu nhân nữa chứ! Như vậy là năm, chứ vú già!
Vú già trịnh trọng đáp:
-Đúng rồi cô giáo. Nhưng Phu Nhân là Phu Nhân.
Vú già không giải thích tiếp nhưng tôi hiểu, phu nhân không được tính trong số người ăn kẻ ở.
Thấy khuôn mặt tôi ngơ ngác, vú già giải thích thêm:
– Phu Nhân giảng dạy ở Sài Gòn, thỉnh thoảng mới về đây! Hàng tuần ông chủ phải về Sàigòn để sống chung với Phu Nhân, rồi chiều Chủ Nhật mới về lại đây. Hai Ông Bà cũng có một biệt thự ở đường Công Lý, sang trọng như ở đây. Có khi cả 5 hay 6 tháng, Phu Nhân mới về đây một lần. Tôi định tò mò hỏi tiếp, nhưng thấy đã quá khuya, nên tôi chào vú già và trở lại phòng ngủ của mình.
(Chuyện gì lại xảy ra với cô giáo Hạ Hạ… Xin đọc:
Chương Ba: Chàng trai tuấn tú và Tuấn là người như thế nào?)

Chương Ba:
Chàng trai tuấn tú

Sáng Thứ Bảy hôm sau, tôi thức dậy hơi sớm vì lạ nhà nên ngủ không ngon giấc. Hơn thế nữa, từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ ngủ một mình. Bên cạnh tôi lúc nào cũng có Mẹ. Lần đầu tiên, tôi được ngủ trên một chiếc giường rất sang trọng nhưng cũng rất cô đơn.
Nằm một mình, dường như có cái gì bất ổn trong lòng. Tôi cố mím chặt môi, nghe mằn mặn ở đầu lưỡi, nước mắt tôi đang lưng tròng, chảy dài trên gò má gầy vì năm tháng cơ cực, thương nhớ Mẹ già da diết.
Khi còn ở nhà với Mẹ, tôi thường ngồi trước nồi xôi Mẹ đang nấu, thả hồn trong điệu kinh nguyện cầu của Mẹ.
Tiếng Mẹ đều đều, dạt dào lời nguyện cầu nhè nhẹ . Nam Mô A Di Đà Phật.
Lời nguyện của Mẹ ngàn đời bất diệt, lắng sâu trong âm ỷ bao giờ, mà đêm nay vẫn còn lảng vảng đâu đây. Tôi nhớ những đêm gần về sáng, ngồi bên bếp lửa, châm củi thêm vào lò Mẹ đang nấu xôi.
Nỗi buồn chất ngất, khi tôi nhớ tới Mẹ, có lẽ giờ này, Mẹ đang đội thúng xôi trên đầu, miệng Mẹ đang rao: “Xôi đậu xanh đây!”

Tôi đang thổn thức về Mẹ, nỗi buồn tràn ngập tâm hồn. Bỗng tôi nghe tiếng gõ cửa thật nhẹ và có tiếng vú già đang đứng ngoài phòng.
– Thưa cô giáo! Mời cô uống cà phê sáng.
Tôi vội mở cửa, vú già vào.
Bà nhìn tôi:
– Mời cô giáo, uống cà phê sáng.
Tôi theo vú già ra tận phòng khách. Một tách cà phê đã pha sẵn, đặt trên một cái dĩa nhỏ. Trên bàn một bình trà đang bốc hơi thơm ngát.
Cái bàn nhỏ, với bốn cái ghế, có tay dựa. Bàn được kê gần cánh cửa kính, có thể trông suốt ra khu vườn trước sân nhà.
Hồi còn đi học, tôi cũng có thói quen uống cà phê và trà nóng vào buổi sáng, cho đỡ buồn ngủ, để tỉnh táo ghi chép bài giảng của các giáo sư.

Sáng hôm đó, nhâm nhi xong tách cà phê pha thật đậm, tôi rót trà trong một tách nhỏ. Hương trà thoang thoảng. Một buổi sáng nhàn hạ. Đột nhiên, từ cổng cửa sắt, một thanh niên thong thả bước vào nhà. Chàng vừa đi vừa huýt sáo như một người rất an nhàn.
Bước đến chậu hồng, chàng dừng lại, đưa tay vào túi quần, lấy con dao bấm, cắt một hoa hồng, chàng thong thả bước lên bậc tam cấp, mở cửa đi thẳng vào phòng khách.
Vì bất ngờ, không biết chàng là ai, nên tôi hỏi:
– Xin lỗi ông là ai?
Chàng trông thấy tôi đang ngồi uống trà một mình, nên rất ngạc nhiên, cũng vội hỏi:
– Cô là ai?”
Tôi cũng không vừa, hỏi lại:
– Xin lỗi. Tôi muốn biết ông là ai, lại tự nhiên mở cửa vào phòng khách?”
Chàng hỏi lại tôi:
– Trước hết, tôi muốn hỏi: – Cô là ai, mà ngang nhiên ngồi uống trà tại nhà ba mẹ tôi?”
Tôi chưa kịp đối đáp, vú già ở phía sau, nghe tiếng cãi nhau trên phòng khách, nên bà vội đi lên.
Vú già vừa thấy chàng thanh niên, bà mừng rỡ reo to:
– Tuấn ơi! Sao con bỏ nhà đi mấy tháng, hôm nay mới về?
Chàng thanh niên ôm chặt vú già trong lòng, liếc mắt nhìn tôi, có ý hỏi vú già, tôi là ai?
Vú già nhìn tôi, nhỏ nhẹ giới thiệu:
– Đây là cậu Tuấn, con trai ông bà giáo sư.
Xoay qua tôi, bà giới thiệu tiếp:
– Còn đây là Hạ Hạ, cô giáo vừa được giáo sư Minh tuyển chọn…
Nghe vú già giới thiệu như thế, Tuấn cũng dịu giọng:
– À! Xin chào cô. Chào giáo sư!
Tôi bớt âu lo:
– Xin chào con trai ông bà giáo sư Minh.
Vú già chen vào:
– Vú pha cà phê cho con nghen.
Tuấn lễ phép:
– Dạ! Thật đậm nghen vú!
Trong cách xưng hô của hai người, tôi biết vú già nuôi nấng, săn sóc Tuấn từ khi Tuấn còn nhỏ, nên vú già và Tuấn rất thân mật.
Phút chốc vú già đem cà phê lên, đặt ngay trên bàn.
Tuấn kéo ghế, ngồi đối diện tôi.
Trước khi ngồi chàng nói:
– Cho ngồi ké ở đây nghen, cô giáo sư?
Tôi đáp:
– Tôi mới là người ngồi ké đó!
Chàng điềm đạm hơn:
– Thôi đừng cãi nhau nữa! Mình hòa với nhau đi!
Tôi chống chế:
– Tôi có cãi nhau với ai đâu?
Tuấn cũng không vừa:
– Tôi cũng vậy! Chẳng dám cãi nhau với cô … giáo sư đâu?
Chàng uống một ngụm cà phê, rồi ngập ngừng tiếp:
– Cô đừng lo. Tôi chỉ thỉnh thoảng về đây thăm vú rồi lại đi thôi!
Tôi đáp:
– Chuyện riêng của ông. Không liên quan gì đến tôi. Tôi cũng chỉ làm việc ở đây hai tháng rồi cũng sẽ đi thôi.
– Sao vậy?
Tuấn vồn vã:
– Viện Đại Học chỉ thuê cô hai tháng thôi à?
Chàng nhìn tôi, vội hỏi: -Những tháng ngày còn lại cô làm gì?
Tôi đáp: – Tôi dạy tại Bùi Thị Xuân.
Tuấn hỏi:
– À! Cho tôi xin lỗi nghen! Hồi nãy vú có giới thiệu tên cô nhưng tôi nghe không rõ lắm. Xin cho biết cô tên gì?
Tôi hỏi lại:
– Ông chưa cho tôi biết tên ông mà?
Tuấn ngạc nhiên:
– Ủa! Hồi nãy vú đã giới thiệu tên tôi với cô rồi.
Tôi cũng kênh kiệu:
– Đúng! Vú già có nói tên ông? Nhưng tôi nghe cũng không rõ lắm!”
– Thôi được! Nhịn giáo sư một chút cũng chẳng sao. Tôi tên Tuấn.
Tôi gặn hỏi:
– Tuấn họ gì? Làm gì?
Tuấn nhìn tôi hơi ngạc nhiên, song cũng nhỏ nhẹ đáp:
– Nguyễn Hoàng Tuấn, Tiến sĩ Hóa Học tại Lò Nguyên Tử Đà Lạt.”
Giới thiệu xong, Tuấn nhìn tôi hỏi: – Còn cô?
Tôi ôn tồn, đáp:
– Tôi là Hoàng Hạ Hạ. Giáo sư Triết trong tương lai của trường Trung Học Bùi Thị Xuân.”
Tôi vừa nói xong, Tuấn nói:
-Chào giáo sư!
Tôi đáp trả:
– Chào tiến sĩ.
Thấy tôi cũng chẳng vừa, khó ăn hiếp nên Tuấn đề nghị:
– Thôi mình nói chuyện tự nhiên hơn nghen.
Tôi đáp:
– Hồi nãy đến giờ, tôi cũng nói chuyện thật tự nhiên rồi đó chứ!
Tuấn hỏi lại tôi:
– Sao ba tôi chỉ tuyển dụng cô trong hai tháng Hè thôi. Còn các tháng khác thì sao?
– Tôi không rõ ý định của giáo sư Minh, nhưng riêng cá nhân tôi, sau hai tháng, tôi sẽ dạy tại Bùi Thị Xuân.
Tuấn nói:
– Tôi nghĩ không phải như vậy đâu. Cách đây một tuần, Mẹ tôi có nói cho tôi biết, Ba tôi muốn tuyển dụng một Cử Nhân Triết để ông sẽ đào tạo thành Giảng Viên cho Viện Đại Học Đà Lạt! Có lẽ cô đang trong tầm nhắm của ba tôi đó! Sao cô không nhận làm Giảng Viên có hơn không?”
Tôi đáp:
-Nhưng tôi không nghe giáo sư nói gì?
– Cô gặp ba tôi hồi nào?
– Chiều hôm qua. Ông chỉ bàn sơ qua công việc với tôi, chừng một giờ, rồi ông phải đi Sài Gòn vì có hẹn với Phu Nhân.
Tuấn nói:
– Ông cũng chẳng hẹn hò gì với má tôi. Chiều Thứ Sáu nào, cô Loan tài xế cũng đưa ông về Sài Gòn, để gặp mẹ tôi, rồi chiều Chủ Nhật ông lại phải quay về để kịp sáng hôm sau, đi dạy ngày Thứ Hai.
Tuấn quay về hướng vú già đang đứng, chàng hỏi:
– Vú ơi! Cô Hạ Hạ đang ở phòng nào vậy?
Vú già trả lời Tuấn:
– Phòng trống. Con bỏ mấy tháng nay!
– Ý! Sao vậy?
Vú già thong thả giải thích:
– Ông chủ bảo. Để cho cô Hạ Hạ tạm ở đó ít hôm. Chờ Phu Nhân về thu xếp!
Tuấn vội hỏi vú già!
– Sao không để cho cô ấy ở lầu 2. Căn phòng cạnh bàn Piano vẫn còn trống mà!
Vú già đáp:
– Ông chủ bảo để cho cô giáo ở tạm phòng đó cho dễ di chuyển và chờ Phu Nhân về thu xếp.
Tuấn đáp:
– Nhưng khi con về, con sẽ ở đâu vú già?
Tuấn nhìn tôi, mỉm cười: -Hay là phòng của tôi, tôi cứ ở vậy!
Biết Tuấn nói đùa, nên tôi cũng chẳng nói gì. Một chập lâu sau, Tuấn nói với vú già:
-Vú ơi! Trưa nay con ăn cơm ở đây nghen?
Vú già ngạc nhiên, hỏi:
– Lại cãi nhau nữa rồi! Loan Loan đâu?”
Tuấn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, đáp:
– Cô ấy bỏ đi mấy tháng nay rồi. Thôi con cũng đành chia tay với cô ấy!
Vú già hỏi:
– Thiệt vậy sao? Được như thế là điều đáng quý. Ông chủ và phu nhân sẽ vô cùng sung sướng đó!
Vú già làm thinh, gương mặt bà sáng lên như hạnh phúc đang tràn về. Bà chẳng nói thêm điều gì. Bà nhìn Tuấn, ân cần nói qua mạch loa, từ phòng khách đến nhà bếp:
– Cô Hai ơi! Cơm trưa cho cậu Tuấn nữa nghen. Có thiếu thứ gì, đi mua thêm nữa đi!
Có tiếng ‘Dạ’ vọng về từ nhà bếp.
Tôi biết Tuấn cố ở lại ăn cơm trưa với mình, nên tôi lên tiếng:
-Vú già ơí! Sáng nay con phải đi chợ mua ít đồ dùng. Vậy vú già và anh Tuấn ăn cơm trước nghen. Con về khi nào sẽ dùng cơm lúc đó cũng được.”
Vú già ngạc nhiên:
-Cô không dùng cơm trưa cùng cậu Tuấn sao?
Tôi giải thích:
-Con có việc phải mua vài thứ vật dụng, dùng cho cá nhân, vú già ơi!
Nghe tôi nói thế, Tuấn lên tiếng:
– Cũng dễ thôi. Để con đưa cô ấy đi, khi về cùng ăn cơm chung cũng được, vú ạ!
Tôi nói:
– Không được đâu. Bất tiện lắm!
Tuấn nhìn tôi:
– Sao không được. Tôi đưa cô đi bằng xe La-Đà-Lạt mà!
Tôi thân thiện:
– Biết vậy rồi! Nhưng tôi không bao giờ đi chung với một người đàn ông đã có gia đình.
Tuấn cũng chẳng vừa:
– Cô nói đúng ý tôi đó! Tuy tôi là một người đàn ông chưa có gia đình, tôi cũng chẳng bao giờ chịu đi chung với một phụ nữ đã có bạn trai rồi!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
-Sao biết tôi chưa có bạn trai! Ông lầm rồi! Tôi đã có bạn trai từ lâu rồi!
Tuấn đáp:
– Tôi không tin! Nhìn mắt cô, tôi biết cô chưa thương nhớ ai! Nên mắt cô sáng, trong veo! Ánh mắt cô, không mang dáng vóc của chàng trai nào!
Tuấn nhìn đồng hồ tay, nói:
– Mười giờ rồi cô Hạ Hạ ơi! Tôi tình nguyện làm tài xế, đưa cô đến chợ Hòa Bình. Sau đó, mình về ăn cơm trưa, để vú khỏi chờ. Vả lại chị bếp cũng đã đi chợ rồi.
Tôi từ chối khéo:
– Cám ơn ông. Tôi xuống dốc Biệt Thự rồi đón xe Lam đi cũng được.
Tuấn giải thích:
– Nếu cô đón xe Lam ở dưới dốc Đỉnh Sương Mù để đi chợ Hòa Bình thì không bao giờ cô đón xe Lam được. Vì xe Lam lấy khách từ thác Prenn, nên họ lấy đủ tám người để đi Đà Lạt, do đó không còn chỗ trống để đón cô. Nên xe Lam không bao giờ ngừng lại dưới dốc Biệt Thự.
Tôi cương quyết:
– Tôi thả bộ cũng được. Hôm qua tôi cũng đã đi bộ đến đây.
Tuấn nói:- Cô đi bộ cũng được. Song Đà Lạt là nơi thường có những cơn mưa đá bất chợt. Lỡ trong lúc cô đang đi dọc đường, nếu có một cơn mưa đá thì cô tính sao đây?
Đuối lý nhưng tôi vẫn chống chế:
– Thôi ông chở giùm tôi đến chợ Hòa Bình rồi ngồi trong xe chờ tôi. Tôi sẽ mua sắm thật nhanh để được ông đưa tôi trở về. Xin ông đừng đi theo cùng tôi.
– Sao vậy?
– Kỳ lắm! Tôi thẹn lắm! Ai lại song đôi với một người đàn ông đã có người yêu. Lỡ cô ta trông thấy, đánh ghen thì ra cái sự thể gì.”
Tuấn cười:
– Mẹ tôi lúc nào cũng thích, cha tôi kè kè bên cạnh, tay xách nách mang.
Tôi đáp trả:
– Phu Nhân đi với chồng là giáo sư đại học mà. Sao lại không hãnh diện chứ!
– Còn cô đi với tôi?
– Ông không là gì với tôi cả? Hơn thế nữa, ông là người yêu của cô Loan Loan nào đó!
Tuấn nói như ra lệnh:
– Thôi cũng vừa đủ. Cô sửa soạn đi! Năm phút nữa mình đi nhé!
– Ông nghĩ sao? Một phụ nữ chỉ sửa soạn có năm phút để ra khỏi nhà sao?”
– Thôi được, tôi chờ … cô giáo sư!
Chữ giáo sư Tuấn muốn kéo dài ra để trêu tôi. Biết thế, nhưng tôi cũng chẳng có phản ứng gì. Tôi vừa đi vào phòng vừa mỉm miệng cười. Luôn luôn mình phải giữ ưu thế chứ!
Mười lăm phút sau, tôi đến phòng khách. Tuấn thấy tôi cũng chẳng trang điểm gì. Chàng đứng dậy và cùng tôi đi thẳng ra xe của chàng, đang đậu trước cổng, cửa sắt.
Gần đến nơi, chàng bước nhanh hơn, mở cửa xe và lịch sự mời tôi.
Tôi bước vào xe, Tuấn đóng cửa xe rất nhẹ, rồi đi vòng phía sau xe. Tuấn cũng chẳng nói với tôi một lời nào. Chàng chạy một mạch đến chợ Hòa Bình.
Xe dừng lại trước tiệm ảnh Đại Việt, trên đường Minh Mạng.
Chàng ra khỏi xe và đến mở cửa xe cho tôi xuống. Tôi bước ra khỏi xe, vừa lúc đó, một toán Sinh Viên Sĩ Quan vừa thả bộ xuống dốc, cả toán chào Tuấn trong tư thế của người lính. Tuấn cũng đưa tay chào lại theo lối dân sự. Sau khi toán Sinh Viên Sĩ Quan đi hơi xa, Tuấn nói với tôi:
”Tôi ngồi đây! Chờ cô!”
Tôi đưa tay vẫy nhẹ Tuấn rồi bước đi.
Khoảng chừng ba mươi phút sau, tôi trở lại. Khi trông thấy tôi, Tuấn vội vàng rời chỗ bên tay trái lái xe, vòng qua phải, Tuấn mở cửa xe. Khi tôi đã ngồi yên trên ghế xe, Tuấn đóng cửa và lái xe về.

Dọc dường tôi thấy Tuấn buồn, nên tôi mở lời trước, để đánh tan bầu không khí căng thẳng.
Tôi hỏi:
– Anh có ở trong quân đội không?
Tuấn đáp: – Không! Tôi là đứa con duy nhất trong gia đình, nên được miễn dịch vĩnh viễn.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Khi nãy, tôi thấy nhiều Sinh Viên Sĩ Quan chào anh?
Tuấn nhỏ nhẹ:
– À! Tôi có dạy Toán cho các lớp Sinh Viên Sĩ Quan năm thứ 2.
Tôi hỏi:
– Sao anh vừa làm việc ở Nguyên Tử Lực, còn thì giờ đâu mà dạy Toán?
Tuấn giải thích:
– Tôi chỉ bị trưng dụng, mỗi tuần có hai giờ thôi. Tôi dạy Toán-Lý-Hóa.
Xe cũng vừa leo lên dốc và đậu ngay chỗ cũ.
Tuấn lại đi vòng. Mở cửa xe và lịch sự đi sau tôi một vài bước.
Vừa đến nhà, vú già đang đợi.
-Tuấn và Hạ Hạ ăn cơn trưa nghen.
Tôi và Tuấn cùng đáp: -Dạ.
Bữa cơm trưa vào ngày Thứ Bảy cũng rất phong phú nhưng những món ăn được mang đến bàn từng món một, nên dễ dàng cho tôi hơn.
Tôi chờ Tuấn lấy thứ gì, tôi cũng lấy thứ đó, nên tôi không có gì lúng túng.
Cạnh phòng ăn, có một khung cửa hình chữ nhật, tiếp giáp với nhà bếp. Thỉnh thoảng tôi thấy đôi tay mang găng trắng đưa thức ăn qua khung cửa ấy. Sau đó vú già mang thức ăn đến bàn.
Trước hết cũng là món súp. Một tô súp vừa đủ cho hai người.
Khi súp được đặt trên bàn, Tuấn lấy hai cái đĩa sành. Tuấn múc súp vào hai cái dĩa, vú già đã đặt sẵn.
Tuấn mời tôi dùng súp.
Tôi nhớ lại cách ăn súp lần trước, nên hỏi Tuấn:
-Anh dùng một ít tiêu?
Tuấn gật đầu. Tôi rắc một vài hạt tiêu vào đĩa súp của Tuấn.
-Cám ơn cô.
Tôi cũng rắc một ít tiêu vào đĩa súp của tôi.
Trong khi đó, tôi thấy Tuấn đang chờ. Tôi lên tiếng:
-Mời anh ăn súp.
Tuấn nhìn tôi thật lâu,
– Mời cô.
Cả hai chúng tôi, chẳng ai nói với ai điều gì. Tôi thấy bầu không khí hơi căng thẳng nên gợi chuyện.
– Anh Tuấn chở tôi ra phố, không sợ chị Loan Loan ghen sao?
Tuấn đáp:
– Vũ nữ, chẳng có cô nào ghen.
Tôi ngạc nhiên, hỏi:
– Sao vậy?
Tuấn không trả lời trực tiếp câu tôi hỏi, lại nói:
– Cũng chẳng có một người đàn ông nào lại đi ghen với vũ nữ!
Tôi hỏi: ” Tại sao thế?”
Tuấn giải thích:
– Đã là vũ nữ thì phải không chồng mà chỉ có kép. Hôm nay kép này! Mai lại kép khác. Nên đã là vũ nữ thì chẳng có vũ nữ nào lại đi ghen với kép. Mà đã là kép, cũng chẳng có kép nào lại đi ghen với vũ nữ.
Tôi hỏi thăm dò:
– Còn anh có ghen với Loan Loan khi cô ấy có kép khác không?
Tuấn quả quyết:
– Chắc chắn là không rồi nhưng ngay bây giờ, tôi không còn là kép của Loan Loan nữa.
Tôi hỏi:
– Sao vậy?
– Chuyện cũng bình thường thôi. Không thích nhau thì không còn gì với nhau nữa.
Tuấn giải thích thêm:
– Hơn thế nữa, Loan Loan và tôi chia tay lâu lắm rồi.
Tôi định hỏi thêm nhưng Tuấn đã hỏi tôi:
– Còn cô có ai chưa?
– Tôi chưa có vì chưa tìm ra được ý trung nhân.
Tuấn cũng hỏi thăm dò tôi:
– Ý trung nhân của cô phải là người như thế nào?
Tôi cố nói để Tuấn không thể hiểu được những ý nghĩ gì của tôi:
– Ý trung nhân của tôi phải là một người chưa hề yêu ai!
Tuấn cũng không vừa:
– May mắn và hạnh phúc cho tôi lắm đó! Vì tôi chưa bao giờ yêu ai!
– Thật vậy sao? Còn Loan Loan?
– Sao lại không thật? Ai lại đi yêu vũ nữ.”
Tôi hỏi:
– Không yêu vũ nữ, mà lại mua nhà cho vũ nữ ở. Cùng sống chung với vũ nữ?
– Tôi mua nhà cho tôi! Tôi không mua nhà cho vũ nữ. Cô cũng có quan niệm giống như ba mẹ tôi rồi. Ông bà thấy tôi mua nhà, hoảng hốt lên! Sao ba mẹ tôi không chịu nghĩ tôi mua nhà cho tôi. Sao tôi lại phải mua nhà cho Loan Loan? Chẳng qua, biệt thự mà tôi thích, tôi đã trả giá từ lâu, trước khi tôi quen với cô ấy, nhưng chủ nhà chưa chịu bán, đến khi hai bên thương lượng xong xuôi giá cả thì lại trùng hợp với khi tôi quen Loan Loan, nên ba mẹ tôi lo sợ thôi.
Tôi nói:
– Giáo sư và Phu Nhân rất có lý, vì tương lai của anh thôi!
Tuấn nói rất hùng biện:
– Nếu vì tương lai của tôi, ông bà nên cho phép tôi, ủng hộ tôi, mua ngôi biệt thự đó.
Tôi hỏi nhỏ:
– Còn biệt thự Đỉnh Sương Mù thì sao? Anh là con trai duy nhất trong gia đình mà!
Tuấn phân trần:
– Cô nói đúng lắm nhưng tôi cần một nơi riêng biệt để làm phòng thí nghiệm. Nghề nghiệp của tôi cần phát minh một sự kiện mới chưa ai tìm thấy trong lãnh vực Nguyên Tử Học.
Cô và ba tôi là những triết gia, còn mẹ tôi là một giáo sư nhạc, nên quan niệm rất trừu tượng, còn tôi là những nguyên lý ắt có. Do đó, rất khó thông cảm với nhau.
Tuấn thở dài, nói tiếp:
– Thôi mình bỏ qua vấn đề này nghen, đừng đề cập đến nữa, sẽ xảy ra mâu thuẫn.
Để trấn an Tuấn, tôi đáp:
– Bây giờ, Hạ Hạ mới hiểu được nguyên do tại sao, anh lại mua thêm một biệt thự nữa, trong khi anh đã có Đỉnh Sương Mù.
Mắt Tuấn sáng lên, lòng mắt Tuấn sâu hun hút như thoạt tìm thấy chân lý.

Sau đó, Tuấn ra về và để lại trong tôi những giây phút kỳ dị.
(Hạ Hạ và Tuấn sẽ ra sao ngày sau? Xin đọc tiếp… )

CHƯƠNG 4
TIẾNG AI ĐÀN

Sáng hôm sau, ngày Chủ Nhật, tôi cũng thức dậy thật sớm vì nhớ Mẹ.
Tôi nhìn ra khung cửa sổ, dầy đặc sương mù bao phủ.
Cơn mưa đầu mùa đã nhỏ giọt. Trời bắt đầu vào thu lành lạnh, báo hiệu cho một mùa thu, giá rét kéo về từng cơn buốt lạnh thấu xương. Mây đen vần vũ, sương mù giăng tỏa, mà niềm thương nỗi nhớ Mẹ già ngập tràn thân thể với ray rứt, nhớ thương mang đến cho tôi nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn.
Bỗng có tiếng đàn từ đâu đưa lại. Tiếng ai đang đàn piano nghe văng vẳng đâu đây. Tôi cố lắng tai nghe để nhận định tiếng đàn phát xuất từ đâu? Nhưng tuyệt nhiên chẳng nhận định được gì!
Tôi choàng ngồi dậy, cố lắng tai nghe.
Tiếng đàn đang gõ từng nhịp nhẹ trên các phím piano của nhạc bản “Đêm mơ Mẹ về “, nhạc và thơ của ai đó, hơi quen quen nhưng bất chợt tôi đã quên tên thi sĩ viết ra bài thơ này và nhạc sĩ nào đó đã phổ thơ thành nhạc. Ai đang đàn ca khúc này đây?
Tiếng đàn vẫn réo rắt đâu đó, nghe như tiếng mấy con dế rừng đang thì thầm bên nhau. Tôi cố lắng tai nghe tiếng đàn vọng về từ đâu nhưng tôi không thể nào định hướng được. Tôi tò mò mở cửa bước ra ngoài. Tiếng đàn rõ hơn, dường như xuất phát từ bên trên phòng ngủ của tôi. Tôi trở vào phòng thay quần áo ngủ bằng một bộ quần áo khác. Tôi nhẹ bước lên lầu. Tiếng đàn càng lúc càng rõ hơn, thanh âm càng lúc càng dịu vợi hơn:
“Đêm sâu thăm thẳm giấc nồng,
Mẹ về hư ảo, bềnh bồng khói sương…”
Tôi bước dần theo tiếng đàn. Cửa phòng nơi có tiếng đàn piano phát ra, không đóng cửa và tiếng hát quyện với tiếng nhạc, âm vang lẫn trong lời hát nho nhỏ chỉ vừa đủ cho người đang đệm đàn nghe.
Lời ca và tiếng nhạc đang chảy dài trên các phím ngà, đưa hồn tôi lâng lâng vào cõi mộng.
Bất giác Tuấn hỏi tôi:
– Khi nãy, Hạ Hạ có nghe tôi ngắt một giây trong ‘note Si’ không?
– Dạ có!
Tuấn ngẩng mặt, đưa mắt nhìn tôi, giọng chàng âu yếm nói:
– Lúc đó Tuấn đang nghe một chuỗi âm thanh lẫn lộn với hương thơm của tóc, do đó Tuấn biết Hạ Hạ đang đứng ở đâu đó, nghe Tuấn đàn.”
Tôi bước vào phòng, đến gần đàn piano. Tuấn vẫn say sưa đàn, dường như không quan tâm có tôi đang đứng bên cạnh.
Tôi khen:
– Anh đàn và hát hay quá!
Tuấn ngước mắt nhìn tôi hun hút:
– Mẹ tôi dạy tôi đó! Lúc Mẹ đang học, Mẹ đã dạy nhạc cho tôi rồi. Và thỉnh thoảng Mẹ nghe tôi đàn, Mẹ cũng đã dạy thêm cho tôi cách đưa những ngón tay chạy dài trên phím và những cách giữ thanh âm của tiếng hát kéo dài trong thanh quản. Vì vậy mà phần nào, tôi đã hấp thụ được cái tinh hoa dịu vợi của Mẹ!
Tôi hỏi:
– Anh đến đây hồi nào, mà sáng sớm đã có mặt ở đây rồi?
Tuấn đáp:
– Thỉnh thoảng tôi vẫn có mặt tại đây vào những sáng cô đơn như vầy.
Tuấn nhìn xa xăm:
– Tôi đàn một vài bản nhạc rồi sau đó uống cà phê của vú pha!
Như nhớ ra điều gì, Tuấn hối hả mời tôi:
– Mình xuống phòng khách, uống cà phê của vú pha nghen? Vú pha cà phê thật tuyệt!
Nói xong, Tuấn nhảy chân sáo xuống từng bậc cấp, đứng nhìn lên, trong khi đó, tôi thong thả bước từng bước một xuống cầu thang.
Vừa đến phòng khách, tôi đã thấy vú già, nét mặt vui như ngày hội.
Bà hỏi chúng tôi:
– Cô giáo và Tuấn, chờ vú pha cà phê cho nghen!
Tôi chưa kịp nói gì, Tuấn đã trả lời với vú già:
– Vú cho con hai ly, y như ngày hôm qua nghen Vú.
Vú cười tươi như hạnh phúc đang tràn về với vú!
– Ừ! Ừ! Để Vú làm! Chờ tí nghen! Chờ một tí!
Nói xong bà vội vã quay đi.

Trong thoáng chốc, hai ly cà phê và một bình trà thơm phưng phức đã được bà đặt trên bàn.
Chúng tôi ngồi uống cà phê và nói vài câu chuyện bâng quơ. Một hồi, Tuấn mới tâm sự với tôi, vì lý do gì mà Tuấn không về đây khi có mặt của giáo sư Minh, ba chàng …
( Khi giáo sư Minh từ Sài Gòn trở về Đà Lat, chuyện gì lại đến với Hạ Hạ …)

CHƯƠNG NĂM
GIÁO SƯ MINH VÀ TÔI

Sáng thứ hai, tôi thức dậy thật sớm nhưng vẫn còn nằm trên giường đọc vài trang sách. Có tiếng gõ cửa nhẹ và tiếng vú già nói vọng vào:
– Cô giáo! Ông chủ muốn gặp cô.
Tôi mở cửa phòng, vú già đang đứng trước cửa nói vọng vào:
– Mời cô giáo ra phòng khách. Ông chủ muốn gặp cô.
Tôi theo vú già ra phòng khách ngay vì tôi dự đoán trong ngày hôm nay, giáo sư Minh cũng sẽ gặp mình, nên tôi đã trang điển, ăn mặc chỉnh tề, chuẩn bị cho lần gặp mặt, để trao đổi những công việc của tôi đã nhận làm với giáo sư Minh.

Ra đến phòng khách, giáo sư Minh đang ngồi uống trà. Trên bàn ngay chỗ tôi sẽ ngồi, cũng có một ly cà phê và một tách trà đang bốc hơi.

Vừa thấy tôi. giáo sư nhỏ nhẹ giọng nhưng rất nghiêm nghị:
– Mời cô dùng cà phê và uống trà buổi sáng. Trong lúc trà đàm, mình bàn với nhau một ít công việc.
Tôi thưa ‘Dạ’ và ngồi xuống trước mặt ông.
Giáo sư Minh mời tôi:
– Mời cô dùng trà và cà phê.
Tôi liếc mắt nhìn, thấy ông đang uống trà, tách cà phê vẫn còn nguyên chưa uống. Tôi lấy bình trà rót nửa tách.
Tôi mời:
– Xin mời giáo sư dùng trà.
Ông điềm đạm đáp:
– Mời cô, Tôi đang uống trà đây.
Ông vừa nâng tách trà ngang môi, ông hỏi:
”Cô mới tốt nghiệp hả?”
Tôi lễ phép:
”Dạ! Tôi tốt nghiệp Cử Nhân Triết, niên khoá 64 – 65, vừa rồi.”
Ông nhìn tôi có ý thăm dò:
– Cô được bổ dụng về Bùi Thị Xuân?
– Dạ phải!
Giáo sư Minh nhìn tôi rồi thong thả hỏi:
– Nếu có một công việc khác, cô có nhận làm không?

Trong lúc chuyện trò với Tuấn, tôi đã biết, ông đang cần một Giảng Viên Triết, nên tôi chẳng phân vân gì, tôi đáp thật nhanh:
– Dạ thưa giáo sư, tôi nhận chứ, miễn là công việc đó cũng trong ngành giáo dục.
Tôi thấy ông khẽ gật đầu:
– Tôi muốn cô đọc sách cho tôi nghe và ghi chép những gì tôi nhờ cô ghi lại. Sau đó, tôi sẽ đào tạo cô thành Giảng Viên Triết, phụ tá tôi, sau những giờ tôi giảng dậy, cô sẽ giải thích thêm cho các sinh viên năm thứ nhất, nếu họ cần hỏi thêm về bài giảng.
Bốn năm của thời sinh viên, tôi quá quen thuộc với trách nhiệm của một Giảng Viên, nên tôi cũng chẳng lấy gì làm bối rối, lo sợ.
Ông ngã lưng ra ghế, định rít một tẩu thuốc pipe, nhưng sực nhớ đang có tôi, nên ông hỏi:
– Cô có khó chịu với mùi thuốc pipe lắm không?
Tôi nghĩ nhanh trong đầu; nhất định là mình có khó chịu với khói thuốc nhưng mình làm việc với một người hút thuốc, nếu mình nói ‘khó chịu’ thì ai dám cộng tác với mình, vì vậy tôi nói:
– Dạ thưa không!
Tôi thấy ông gật đầu, vui vẻ:
– Như vậy cũng rất thuận tiện cho cả cô và cho tôi nữa.
Sau đó ông nghiêm nghị nói tiếp:
– Nhưng nếu cô không chịu được khói thuốc, khi làm việc với cô, tôi không hút cũng chẳng sao!
Ông phân trần thêm:
– Những giờ trên bục giảng, tôi không hút pipe, cũng chẳng có sao!
Một chập lâu sau, ông tiếp:
– Thỉnh thoảng làm việc riêng tư, gặp chuyện gì khó giải quyết, tôi có thói quen hút một hơi pipe, để tránh căng thẳng.
Ông nhìn tôi nhã nhặn nói:
– Cũng là đam mê xấu đó cô.
Tôi đáp:
– Nhưng đối với tôi chẳng có gì xấu đâu giáo sư.
Ông nhìn tôi như thầm cám ơn.
Ông bật lửa và hít một hơi thuốc thật dài. Ông ngậm khói thuốc một lúc thật lâu, tôi tưởng ông đã nuốt hết khói thuốc vào lồng ngực nhưng ông xoay người về hướng khác để tránh tôi, ông nhả thật nhẹ, làn khói cuồn cuộn bay lơ lửng trên trần nhà, mắt ông mơ màng nhìn theo khói thuốc, hỏi tôi:
– Cô còn trẻ, nên chưa có gia đình phải không? Hiện nay cô sống với ai?
Tôi đáp:
– Dạ! Tôi còn độc thân và hiện đang sống chung với mẹ tại Sài Gòn.
Ông trầm ngâm một lúc thật lâu, hỏi tiếp:
– Sao không đưa mẹ cô về Dà Lạt? Hai mẹ con sống chung với nhau, thuận tiện hơn không?
Tôi trình bày:
– Dạ, tôi dự định sau một thời gian làm việc ở Đà Lạt sẽ tìm cách đưa mẹ tôi về đây cho tiện.
Ông ngồi thẳng lưng, nhìn tôi hỏi:
– Sao không đưa Mẹ về ngay bây giờ mà phải còn dự định?
Tôi phân trần:
– Dạ thưa giáo sư, tiền đề bao giờ cũng là nơi cư trú.
Tôi nói thêm: ”An cư mới lạc nghiệp! Thưa giáo sư!
Tôi thấy ông ngồi trầm ngâm, cho thêm thưốc ‘Seventy-Nine’ vào tẩu.
Ông đi thẳng ra cửa trước, châm lửa hít một hơi thật dài như lần trước rồi nhả khói thuốc ra bay lòng vòng như những đám mây mờ đục ngoài hiên đang có sương lạnh.
Ông trở về bàn, hỏi tôi:
– Mẹ làm gì?
Tôi nghĩ thầm: “Hai lần ông dùng chữ ‘mẹ’ trống rỗng, tôi không biết ông có ý gì hay chỉ là cách nói thông thường, bình dị của người Đà Lạt, giống như người Sài Gòn của chúng tôi.” Hơn thế nữa, tôi cũng chẳng muốn nói về nghề nghiệp của mẹ tôi với một vị giáo sư mà mình mới gặp nhưng sau một phút suy nghĩ, tôi quyết định trả lời:
– Dạ mẹ tôi bán xôi dạo.
Tôi nói thật to, rõ ràng từng tiếng một những chữ như ‘mẹ tôi’ chứ không phải mẹ của chúng ta và chữ ‘bán xôi’ tôi cố ý nhấn mạnh để xem thái độ của vị giáo sư này ra sao?
Ông trầm lặng không chú ý gì đến những chữ tôi muốn làm rõ thêm nghĩa nhưng tôi vẫn không thấy ông có thái độ gì và thản nhiên ông nói:
– Cũng dể thôi. Tôi tưởng mẹ cô đang kinh doanh lớn ở Sài Gòn, chứ bán buôn nhỏ cũng dễ di chuyển thôi.
Ông lặng thinh giây lát rồi đề nghị với tôi:
– Cô đưa mẹ về đây sống chung với chúng tôi được không?”
Ông đề nghị đúng với những gì tôi đang mong đợi. Dù sao tôi vẫn mong, mình phải sống gần mẹ để săn sóc mẹ trong tuổi già, hơn thế nữa tôi muốn mẹ tôi, không phải cực nhọc, nấu từng nồi xôi đi bán.
Lương của một giáo sư Trung Học cũng đủ cho sinh hoạt hàng ngày của mẹ con tôi. Nay được ông đề nghị, tôi vừa mừng lại vừa lo vì tôi sợ, sau lòng tốt của vị giáo sư, có cái gì rủi ro cho thân phận mình hay không?
Trong lúc tôi còn đang do dự, giáo sư Minh nói:
– Biệt thư này rất rộng. Còn nhiều phòng bỏ trống. Nếu cô thích, cứ đưa ”bà cụ’ của cô, về đây cũng tiện cho cô đấy.

Tôi chưa rõ biệt thự này rộng ra sao vì tôi chỉ mới ở đây được hai ngày, nên chưa dám đi đâu, thậm chí ngay cả cô tài xế, cô bếp, tôi cũng chưa biết mặt.
Ông giải thích thêm:
– Đại học ở đây do một linh mục điều hành và đang trong thời kỳ phát triển. Việc tìm một Giảng Viên cũng được Cha Viện Trưởng và tôi bàn bạc từ lâu. Do đó tôi nghĩ chắc chắn cô sẽ trở thành Giảng Viên của Đại Học Đà Lạt trong kỳ khai giảng niên khóa này.
Giáo sư Minh giải thích cặn kẽ thêm:
– Để cho cô, có một quyết định rõ ràng hơn, tôi sẽ thu xếp để cô được gặp Cha Viện Trưởng và chúng tôi sẽ làm thủ tục tuyển dụng, để cô có được Quyết Định Tuyển Dụng, để dễ từ chối công việc bên trường Bùi Thị Xuân.
Cô cũng nên từ chối sớm để bên đó họ dễ thu xếp giờ giấc cho niên khóa mới.
Tôi thấy giáo sư Minh rất cẩn thận và ông đã tính toán trước những gì mà tôi chưa kịp nghĩ ra. Tôi nhìn ông với tư cách của một sinh viên, cám ơn Thầy mình và trịnh trọng nói:
– Tôi thật vô cùng cám ơn giáo sư. Nếu được giáo sư giao cho tôi trọng trách như một Giảng Viên, đó là điều rất hạnh phúc cho tôi, mà tôi chưa bao giờ dám mong đợi điều đó.
Ông thong thả, điềm đạm nói:
– Để giúp một sinh viên Triết có công ăn việc làm được dễ dàng là nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các giáo sư Triết chúng tôi. Cá nhân tôi cũng chỉ là một trong những giáo sư Triết thôi. Tôi mong thế hệ sau như cô, cũng cư xử như chúng tôi vậy.
Sau này tôi được biết, giáo sư Minh là Khoa Trưởng Khoa Triết Học, ông thường ăn tối với những giáo sư khác, nhưng về nhà sớm và tối nào cũng gọi điện thoại thăm vợ. Ông rất nghiêm nghị, ngày nào cũng đi dạy. Đó là một người đàn ông đầy nhiệt huyết, biết mình muốn gì và sẽ phải làm gì.
Ông là một người hiền lành, thật thà, dễ mến.
Một chập lâu sau, ông nói:
– Bắt đầu chiều nay, cô đọc vài chương sách cho tôi nghe. Cô nhớ đem theo giấy bút để ghi chép lại những gì tôi cần cô ghi chép.
Ông giải thích thêm:
-Tôi đang bị một chứng bệnh về mắt, bác sĩ Nhãn Khoa khuyên tôi ngưng đọc sách một thời gian thật dài và đến khi nào thị lực của tôi bình phục, tôi mới được đọc sách trở lại. Hơn thế nữa, tôi đang soạn một chương trình cho môn Triết Học Đông Phương, nên tôi cần rất nhiều tài liệu.
Ông nhìn tôi thật lâu như có vẻ thăm dò những phản ứng trên nét mặt của tôi. Một chập lâu sau ông nói:
– Sáng nay, tôi sẽ gặp Cha Viện Trưởng để xin Cha, cho cô được diện kiến.
Nếu không có gì trở ngại và được sự đồng ý của Cha Viện Trưởng, cô cũng sẽ có ngay Quyết Định Tuyển Dụng Giảng Viên của Viện Đại Học Đà Lạt, ngay sau khi cô trình diện Đức Cha.
Nói xong, ông hỏi tôi:
– Cô nghĩ thế nào?
Mắt tôi sáng ngời, vui mừng đáp:
– Thưa giáo sư, tôi vô cùng cám ơn lòng tốt của giáo sư đối với gia đình chúng tôi.
Giáo sư Minh nghe tôi nói xong, ông cũng chẳng nói thêm gì. Ông lạnh lùng đứng dậy nhìn đồng hồ và vội ra xe đi làm.
Có tiếng xe nổ máy, xe lăn bánh khi một vài tia nắng đang rọi sáng những hạt sương còn đọng lại trên những cành thông.
Trước sân nhà, những hoa Hồng, Hướng Dương, Phù Dung…đang khoe sắc.
Dọc theo con đường là đám hoa Pensée, hoa Mười Giờ màu tím, cánh mỏng như tơ liễu, dễ thương, có hoa màu đỏ như xác pháo. Chập chờn vài con bướm trắng, cánh tròn bay lang thang trên giậu hoa Bụt, lủng lẳng những nụ hoa nhỏ xíu phớt hồng.

Còn lại một mình, tôi xúc động vô vàn!
Buổi sáng cũng trôi qua thật nhanh như những cánh bướm bay đến, bay đi, lượn lờ trên những cánh hoa rực rỡ đầy màu sắc.
Đang suy nghĩ miên man, tôi thấy xe của giáo sư trở về. Xe cũng đậu ngay bậc tam cấp. Tôi nhìn ra xe, không có giáo sư, nhưng cô tài xế bước vội ra phía sau. Vài phút trôi qua, vú già lên phòng khách, nói với tôi:
– Ông chủ bảo cô đến gặp Đức Cha Viện Trưởng ngay bây giờ!
Nghe nói như vậy, tôi trở về phòng, khoác thêm một cái áo dạ và mang theo một cái cặp với giấy tờ ra xe ngay.

Cô tài xế trạc ba mươi, người khỏe mạnh, rất xinh. Vừa thấy tôi, cô vồn vã chào:
– Chào cô giáo sư!
Tôi lúng túng:
– Chào cô.
Tôi định mở cửa trước, ngồi ngay bên cạnh cô tài xế nhưng cô lễ phép lên tiếng.
– Xin giáo sư ngồi ở ghế sau.
Nói xong cô tài xế, rời khỏi tay lái, mở một cánh cửa sau và mời tôi lên xe.
Trên đường đi, cả hai chúng tôi chưa kịp trao đổi một lời nào, xe cũng đã đến Viện Đại Học.
Xe vừa ngừng, tôi thấy một người phụ nữ khác, dường như đang đứng đợi tôi, nên khi tôi vừa mở cửa xe bước xuống, người phụ nữ đã bước đến, lễ phép:
– Chào giáo sư Hạ Hạ.
Tôi hơi bối rối, không biết người phụ nữ ra đón tôi là ai, nhưng tôi vẫn chào lại:
– Xin chào cô.
Người phụ nữ lễ phép giới thiệu:
– Tôi là Nhung, làm việc tại Phòng Nhân Viên. Giáo sư Nguyễn Hoàng Minh nhờ tôi đưa cô vào gặp Đức Cha Viện Trưởng.
Tôi theo cô Nhung đi dọc theo một hành lang, đến Văn Phòng Viện Trưởng. Ngoài phòng, có một người thư ký, thấy chúng tôi đến, ông đứng dậy và mời tôi vào gặp Cha Viện Trưởng.
Ông nói:
– Cha Viện Trưởng đang chờ cô.
Tôi bước vào phòng, thấy Đức Cha Viện Trưởng và Giáo Sư Minh đang ngồi tại salon bằng gỗ. Tôi tiến đến chào Đức Cha Viện Trưởng và Giáo Sư Minh. Tôi còn đang bỡ ngỡ, Đức Cha Viện Trưởng lên tiếng:
– Chúng tôi đã bàn với nhau xong rồi. Kể từ hôm nay, cô giúp giáo sư Nguyễn Hoàng Minh soạn một đề án Triết Học Đông Phương. Giờ giấc và cách làm việc ra sao. Giáo Sư Minh sẽ thảo luận với cô.
Nói vừa xong, Cha Viện Trưởng nhìn Giáo Sư Minh nói:
– Cứ làm như kế hoạch mà Cha đã bàn.
Giáo sư Minh đứng dậy chào Cha Viện Trưởng rồi đưa mắt nhìn tôi như bảo: – Chào Cha rồi mình đi!
Tôi cúi đầu chào Cha Viện Trưởng và theo giáo sư Minh rời phòng.

Ra khỏi phòng, giáo sư Minh nhìn tôi, hăm hở nói:
– Mọi việc xong xuôi rồi. Kể từ nay cô là phụ tá của tôi. Việc làm cũng dễ thôi. Tôi sẽ hướng dẫn cô các cách sưu tầm tài liệu.
Nói xong, ông đưa tôi trở lại phòng Nhân Viên. Ông nói:
– Cô chờ ở đây để lấy Quyết Định Tuyển Dụng.
Nói xong ông đẩy cửa bước vào. Bên trong có rất nhiều người đang làm việc. Ông đi thẳng đến Phòng Chủ Sự Nhân Viên và trao đổi gì với ông Chủ Sự, tôi không nghe rõ lắm. Tôi chỉ thấy, Ông Chủ Sự đưa cho giáo sư Minh một tờ giấy gì đó. Sau khi giáo sư Minh ký tên, tôi thấy ông Chủ sự mời tôi ngồi và nói với giáo sư Minh:
– Tôi sẽ trình Cha Viện Trưởng ký Quyết Định ngay bây giờ. Giáo sư bận việc cứ đi. Tôi sẽ trao cho cô Hạ Hạ Quyết Định khi Cha Viện Trưởng ký xong.
Giáo sư Minh nói nhỏ với tôi:
– Nhận Quyết Định xong, cô ra xe và bảo tài xế đưa cô về. Nhớ nhắc cô ấy, đón tôi lúc 3 giờ chiều.
Nói xong giáo sư Minh rời phòng. Tôi ngồi chờ độ mười lăm phút, cô Nhung đem Quyết Định từ Văn Phòng Viện Trưởng trở về, giao lại cho ông Trưởng Phòng. Ông Trưởng Phòng Nhân Viên lấy lại một bản phụ và trao cho tôi một bản chánh.
– Chúc cô may mắn và Viện Đại Học lại có thêm một Giảng Viên xinh đẹp như cô.
Tôi cám ơn ông và cầm Quyết Định Tuyển Dụng. Tôi gần như muốn bay ra khỏi Phòng Nhân Viên.
Xe của giáo sư Minh vẫn còn đậu ngay chỗ cũ. Tôi đến nơi xe đang đậu. Cô tài xế vừa thấy tôi, vội rời chỗ và mở cửa xe mời tôi vào.
Dường như cô tài xế đã được giáo sư Minh dặn trước rồi, nên cô nổ máy xe và đưa tôi trở lại biệt thự. Dọc đường, tôi nhắc lại lời giáo sư Minh nhưng cô tài xế nói với tôi:
– Ngày nào cũng phải đón giáo sư Minh lúc 3 giờ chiều.

Về nhà, tôi vội vào phòng, ngồi đọc Quyết Định Tuyển Dụng tôi đang có trong tay. Quyết Định nêu ra nhiều chi tiết nhưng có hai điều quan trọng mà tôi nhớ và lưu ý nhiều nhất, đó là trách nhiệm và lương bổng của tôi.
Với trách nhiệm và bổn phận như một Giảng Viên, tôi làm việc với sự điều hành của giáo sư Nguyễn Hoàng Minh. Còn lương tôi được lãnh mỗi tháng 10.000$. So với lương của một giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp mà tôi sẽ nhận chỉ có 3.000$.
Cầm trong tay Quyết Định, tôi run lên vì sung sướng và nghĩ ngay đến Mẹ tôi sẽ không bao giờ phải thức khuya dậy sớm nấu xôi, bưng đi bán dạo khắp các xóm lao động ở Sai Gòn.
Tôi muốn báo tin ngay cho Mẹ biết và tôi hình dung thấy Mẹ đang ôm tôi khóc vì sung sướng quá đỗi. Cả đời Mẹ chưa bao giờ có đến 10.000$ như tiền lương của con Mẹ.
( Xin đọc tiếp …thời gian, cảnh vật khi Hạ Hạ đọc sách Triết cho giáo sư Minh…)

Chương sáu
CHIỀU THU ÊM Ả

Hôm đó, như mọi ngày, Hạ Hạ nhìn lên bầu trời. Chiều hôm nay thật dễ chịu, những hạt nắng dìu dịu soi nghiêng bóng những chiếc lá màu vàng nhạt và nắng cũng soi trong mắt Hạ Hạ, để nàng thấy những tia hy vọng tràn đầy tin yêu của cuộc sống và hương vị của cuộc đời, đang ươm mầm trên đoạn đường nàng sắp bước.
Hạ Hạ, nhủ thầm:
”Cám ơn một buổi chiều thật êm ả.”
Vừa lúc đó, xe của giáo sư Hoàng Minh cũng vừa chạy trên các viên sỏi nghe soàn soạt. Xe dừng hẳn trước bậc tam cấp. Giáo sư Minh xách cặp bước lên thềm. Lúc đó, Hạ Hạ cũng đang ngồi tại phòng khách chờ giáo sư Minh, nàng lễ phép nói:
– Thưa giáo sư, tôi vô cùng cám ơn giáo sư đã giúp tôi có được việc làm mà thật tình chưa bao giờ tôi dám mơ ước.
Ông nhìn tôi như muốn nói điều gì nhưng lại thôi. Một chập lâu sau, ông bảo:
– Chiều nay, chúng ta bắt đầu vào công việc nhé!
Ông mở cặp và lấy ra quyển Triết Học Phật Giáo đưa cho tôi, ông nói:
– Tôi đã đọc đến chỗ có sợi chỉ đỏ, đánh dấu. Chiều nay tôi nhờ cô đọc tiếp những chương còn lại.
Ông trao cho tôi quyển Triết Học Phật Giáo, dày cộm đến vài trăm trang. Tôi cầm quyển sách, bước theo ông ra vườn hoa, phía sân sau ngôi biệt thự.
Cạnh hồ non bộ của biệt thự là sân sau, có một nhà nghỉ mát xinh xinh, cũng vừa đủ cho một vài người ngồi bên tách trà, hay thưởng thức hương vị ngào ngạt của ly cà phê nóng hổi.
Biệt thự cũng có vườn trước, sân sau… Vườn trước, trồng vài loại danh hồng như: Tim vỡ, Bạch Tỷ Muội, Hoàng Hậu, Hồng Nhung …
Phía sân sau, cạnh nhà nghỉ mát, một khóm trúc, ly-ly, hoa lài, và một giàn bông giấy tím.
Tôi thích nhất là ‘nhà mát’, ngoài cái bàn nhỏ còn có cái võng đong đưa. Bên cạnh võng, kê một cái ghế xếp, có tay dựa và chỗ gác chân.
Tôi đoán, nơi đây, giáo sư Minh và phu nhân, thường nằm võng, nhâm nhi tách cà phê trong khi đọc sách, ngồi đợi đàn bướm lang thang đâu đó bay về.
Chung quanh khu nhà mát, một vườn hoa nho nhỏ với hàng anh-đào xanh tươi, với hàng thông, sừng sững cao vời vợi. Những giọt sương khuya chưa tan kịp, còn luyến tiếc không chịu rời cành, vẫn còn lóng lánh trên những đóa hồng đang khoe sắc thắm.
Chiều nay, nắng còn hanh vàng, tôi lại ngồi bên cạnh một phiến đá trắng, tròn, nhẵn nhụi, nằm dưới gốc hồng đào, hướng ra ngõ sau, với tách trà pha đậm. Tôi thấp thỏm ngồi chờ. Tôi thấy ông vẫn ngồi lặng thinh như mong đợi đàn chim trời bay về đây ca hót, gọi đàn lao xao.
Bỗng tiếng giáo sư Minh thúc giục:
– Đọc đi cô Hạ Hạ!
Tôi cố đọc thật rõ, từng lời, từng đoạn trong những trang sách Triết học. Giáo sư Minh nằm trên chiếc võng đong đưa, lắng nghe tôi đọc. Đôi khi ông ngắt lời và bảo tôi ghi chép những ý nghĩ phản biện của ông, đối nghịch với lý thuyết Phật Giáo, hoặc đôi khi ông nhận định với những quan điểm của ông và nhờ tôi ghi chép lại. Ông nhắc tôi truy lục thêm tài liệu liên quan về vấn đề đó.

Nơi tôi đang ngồi, vào buổi chiều, có nắng hè, đủ hồng đôi má, cũng có chút gió rét làm se lạnh bờ môi. Những khi cơn gió lành lạnh lướt qua, tôi có cảm giác mơ hồ, dường như cái võng đong đưa gần tôi hơn, trong khi đó giáo sư thả hồn trong khói thuốc để chờ tôi lật từng trang sách và tôi có thể nghe thấy tiếng thở nhè nhẹ của vị giáo sư vừa trang nghiêm trong lời nói, đợi chờ tôi đọc với đôi mắt hun hút nhìn đàn chim từ phương xa bay về. Những giây phút đó, giáo sư thì thầm bảo tôi đọc thật nhỏ vì ông sợ tiếng thì thào của tôi sẽ oà vỡ và thời gian đợi chờ đàn chim cũng sẽ tan biến thành từng mảnh vụn trong vô vọng. Tiếng tôi đọc rất nhỏ cũng có thể làm cho đàn chim sợ hãi bay đi.

Đôi khi ông bảo tôi ngưng đọc. Tôi nín thin thít, khi có tiếng con chim gõ kiến mổ mồi nhịp nhàng trên thân cây thông già cỗi, cùng tiếng hót líu lo, nho nhỏ, chỉ vừa đủ nghe của con chích choè đang hót cho nguời bạn tình của nó, vừa chuyền cành trong khóm trúc.
Giáo sư Minh thì thào bên tai tôi:
– Chim về!!
Đôi khi vì muốn nói thật nhỏ cho tôi vừa đủ nghe, nên ông cúi xuống, hơi thở ông gần bên tai tôi. Tôi vừa ngường ngượng, vừa lo sợ nên xích ra xa hơn. Quanh vườn lũ chim chóc đang rù rì.
Tôi cố tìm tung tích lũ chim trời … nhưng làm sao biết được.
Chim là của bầu trời đầy nắng mưa!
Chim lượn về, tìm đất lành, mồi ngon chim đậu; hết mỏi cánh chim bay hoài bạt gió, mây ngàn khơi.
Có một điều gì đó phảng phất qua nụ cười của ông như thể còn luyến tiếc khi có bóng dáng của đàn chim vội vã bay đi. Lòng tôi dâng tràn nỗi niềm cảm kích vì hạnh phúc xen lẫn với nỗi phân vân mà tôi không thể nào quên được.
Sau một vài phút đầy mộng mị rồi cũng qua đi…
Buổi chiều nào bao giờ cũng rạo rực bên tách cà phê đen, đậm đặc. Tôi ngồi liếm từng giọt đắng, sền sệt trên vành ly, nghe môi miệng thơm ngon.
Ngày nào cũng vậy, tôi bắt đầu bằng một vài trang sách, sau đó là một hớp cà phê thơm ngon để lấy giọng. Đôi khi giáo sư Minh uống cà-phê sữa-đá. Riêng tôi cứ mãi tách cà-phê-đen-đậm. Đời chỉ còn một chút bóng dáng hạnh phúc nhỏ nhoi này thôi.
Sau đó, ông lại ngồi đợi đàn chim trời bay về trong khi tai ông đang lắng nghe tôi đọc từng trang sách…
Không bao lâu, vài con se sẻ từ mái hiên nhà mát bay xuống, nhảy nhót trên sân cỏ, tìm mồi. Nhưng trong vườn sau làm gì có mồi cho chim lượm.

Phút chốc đàn chim lại bay đi. Tôi nhìn theo một con chim mẹ đang tha một bông cỏ trắng về mớm mồi cho đàn chim con trên hiên nhà.
Niềm vui nào rồi cũng cạn, hụt hẫng, nơi đất trời giá buốt, sương mù che phủ quanh năm.
Bỗng chốc, giáo sư Minh giục:
– Đọc tiếp đi cô Hạ Hạ!
Tôi còn đang chần chờ, ông giục tôi:
– Đọc đi! Đọc thật to nghen cô… Hạ Hạ!
Tôi nhìn vào trang sách, và đọc tiếp:
– Cách đây hơn 2.500 năm ở xứ Nepal thuộc ẤN ĐỘ, vùng đất nầy đã sản sinh ra một nhân vật : Thái Tử Tất Đạt Đa, người đã thấy vì lòng tham con người mà nẩy sinh ra một sự bất an trong tập thể nhân quần. Vì thế ngài đã từ bỏ tất cả quyền quý, yêu thương để đi tìm con đường giải thoát cho nhân loại được tự do bình đẳng và yên vui trong cuộc sống.
Tôi vừa đọc đến đây, giáo sư Minh ngắt lời:
– Cô tìm giùm tôi thuyết ngẫu nhiên sẽ diệt cái hiện hữu. Chẳng có gì là do đấng siêu nhiên nào tạo ra cả.
Ông ngẫm nghĩ rồi tiếp tục nói:
– Cô ghi lại điểm này và cố truy cứu những hệ lụy của thuyết ngẫu nhiên, nhé!
Ông như chìm đắm trong những học thuyết rồi sực như nhớ ra điều gì mà ông quên hỏi tôi:
– À! Cô đạo gì nhỉ?
Tôi thưa:
– Tôi đạo Phật.
Ông như vui lên:
– Như vậy, cô có Phật Duyên để nghiên cứu vấn đề này với tôi.
Tôi đáp:
– Thưa giáo sư, trong chương trình Triết Học mà tôi đã được truyền dạy, tôi chỉ thu lượm được vài khái niệm về triết học Đông Phương, trong đó có Ấn Độ Giáo, Phật giáo.
Ông nhẹ nhàng, nói thật nhỏ, bên tai tôi:
– Này nhé! Cô sinh viên mới ra trường ơi! Thời gian học hỏi rất ít. Các môn học thì quá nhiều. Do đó, các sinh viên ra trường về môn Triết Học chỉ được biết qua một cách khái niệm về các môn học và bây giờ là lúc cô phải nghiên cứu tìm hiểu sâu xa về các khía cạnh thâm sâu mà một sinh viên Cao Học Triết hoặc văn bằng Tiến sĩ Triết Học, cần nghiên cứu tận tường hơn.
Tôi mơ màng thấy mình đang đứng trước ngưỡng cửa của môn Triết Học. Giáo sư Minh chầm chậm nói:
– Đọc tiếp đi cô Hạ Hạ!
Tôi đọc tiếp thêm một đoạn nữa. Giáo sư Minh ngắt lời:
– À! Mà tôi quên chưa hỏi, cô biết lái xe ô-tô không?
Tôi ngạc nhiên đáp:
– Dạ thưa, tôi không biết lái xe. Hơn thế nữa, tôi chưa có nhu cầu, nên tôi chưa học thôi!
Giáo sư Minh, tiếp:
– Cô có nhu cầu rồi đó chứ!
Ông ngừng lại một phút. Hít một hơi thuốc, nhả khói thuốc lơ lửng như những vòng tròn, chờn vờn trước mặt. Ông tiếp:
– Nếu cô biết lái xe, tiện cho cô và tôi hơn. Vì lẽ, cô sẽ lái xe và chở tôi đi làm rất thuận tiện cho cả hai. Hơn thế nữa, khi tôi về Sài Gòn vào những ngày cuối tuần, cô cùng về thăm bà cụ cũng rất thuận tiện cho cô.
Ông vui vẻ giải thích tiếp:
– Phải chi cô biết lái xe, kỳ nghỉ cuối tuần nầy, mình về Sài Gòn thì tiện quá!
Ông ngừng trong giây phút, rồi tiếp:
– Tôi về với ‘nhà tôi’, còn cô thì về với mẹ. Một công hai việc, thật thuận tiện.
Ông ngẩng mặt nhìn tôi:
– Nhưng không sao! Tôi sẽ nhờ cô Vy, tập cô lái xe
– Tôi tùy quyền quyết định và sắp xếp của giáo sư thôi.
Ông nhìn đồng hồ và nói:
– Chiều nay, trời vẫn còn sớm, để tôi gọi cô Vy và đề nghị với cô ấy xem sao?
Tôi thấy ông đang nhìn quanh như muốn tìm cô tài xế. Tôi định rời chiếc ghế tre, có bộc nệm mềm, để đi gọi người tài xế nhưng tôi sực nhớ lại điều gì đó, nên hỏi giáo sư:
– Thưa giáo sư! Nếu như vậy thi cô Vy sẽ mất việc sao?
– Không sao, cô yên tâm. Nhà nầy công việc cũng cần nhiều người lắm.
Ông nói tiếp:
– Cô Vy có gia đình ở Đà Lạt, nên mỗi khi đưa tôi về Sài Gòn, cô ấy lại muốn trở về Đà Lạt ngay. Trong khi đó, nhiều khi tôi phải ở lại Sài Gòn, đến 4 hay 5 ngày. Mỗi lần như vậy, cô Vy rất buồn vì phải xa gia đình. Tôi sẽ sắp xếp một công việc khác cho cô Vy.
Thế là ngay chiều hôm đó, tôi học lái xe. Lúc đầu, tôi tưởng lái xe rất khó nhưng khi ngồi vào ghế và lái vài vòng quanh biệt thự, tôi cũng nhận thấy, việc lái xe cũng đơn giản thôi. Và công việc cứ như thế trôi theo thời gian.

Sáng sớm tôi theo giáo sư Minh vào Viện Đại Học để nghiên cứu thêm các lãnh vực triết học do giáo sư Minh hướng dẫn.
Chiều đến, tôi đọc sách cho giáo sư Minh nghe và ghi chép những điều giáo sư căn dặn để sáng hôm sau tôi tìm tài liệu về các vấn đề đó tại Thư viện của Viện Đại Học.
Sau một giờ đọc sách, tôi được giáo sư Minh, cho tôi học lái xe với cô Vy. Công việc cũng bận rộn suốt tuần.
Đến chiều Thứ Sáu, cuối tuần, giáo sư Minh cho phép tôi cùng theo xe về Sài Gòn thăm mẹ tôi.
Mẹ con tôi mới xa nhau vài ngày mà khi gặp lại Mẹ, tôi tưởng chừng như đã xa nhau lâu lắm rồi.
Tôi kể cho Mẹ nghe những gì đã xảy ra trong những ngày ở Đà Lạt, Mẹ tôi rất vui mừng .

Chương Bảy
CƠM TỐI TẠI BIỆT THỰ

Sáng sớm Chủ Nhật, tôi theo xe giáo sư Minh trở lại Đà Lạt. Về đến nơi là khoảng một giờ chiều. Trong lúc tôi còn loay hoay định sắp xếp vật dụng linh tinh, tôi nghe thấy tiếng gõ cửa. Tôi mở cửa, vú già vào nói nhỏ cho tôi nghe:
– Tuấn đã về đây hai lần để tìm cô. Tôi bảo với Tuấn, cô đã theo xe về Sài Gòn thăm mẹ. Tuấn rất buồn , không nói gì, ngồi đàn một lúc rồi bỏ ra về.
Tôi hỏi vú già :
-Tuấn có nói gì về tôi với vú già không?
Bà nhoẻn miệng cười rất vui. Bà nhìn tôi vừa nói vừa thăm dò:
– Tuấn khen cô đẹp và dễ thương!
Tôi vui vẻ cười với vú già:
– Cám ơn Vú, anh Tuấn nói theo kiểu lịch sự đó thôi. Chứ con đâu có đẹp và dễ thương chút nào.
Vừa lúc đó, tiếng giáo sư Minh gọi vú già từ phòng khách. Vú già rảo bước nhanh ra để gặp giáo sư Minh. Tôi lắng nghe giáo sư Minh nói với vú già:
– Bà gọi Tuấn bảo cậu ấy chiều nay về ăn cơm với chúng tôi lúc 6 giờ chiều nghen. Bảo cậu ấy, dù có bận bịu việc gì cũng phải đến, tôi cần gặp Tuấn lúc 3 giờ chiều để bàn với cậu ấy một vài việc rất quan trọng.
Tôi nghe thấy tiếng ‘dạ’ của vú già và tiếng bước chân của giáo sư Minh về phòng, trên lầu hai.
Tôi rất lo âu và bàng hoàng vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra trong buổi cơm tối, giữa Tuấn và giáo sư Minh?
Tôi thắc mắc không biết câu chuyện có liên quan gì đến tôi không? Nhưng nếu chuyện riêng giữa hai cha con giáo sư Minh và Tuấn, sao lại có sự hiện diện của tôi. Nếu không liên quan gì đến tôi, sao giáo sư Minh, bảo bà vú nói với Tuấn “về ăn cơm tối với chúng tôi.”
Tôi suy nghĩ miên man mà không thể nào đoán được chuyện gì.
Chữ ‘chúng tôi’ hàm ý nhiều nghĩa! Chúng tôi là ai? Khách mời của giáo sư? Hay chúng tôi theo nghĩa của giáo sư trong đó có tôi?
Nhưng nếu chỉ có giáo sư Minh và tôi sao ông không bảo với vú già là ‘về đây ăn cơm chiều với tôi và cô Hạ Hạ?’
Ngần thứ đó làm tôi đặt ra nhiều nghi vấn rồi tự giải đáp nhưng không có một lời giải thích nào được tôi đánh giá đúng nhất.
Miên man nghĩ mãi, tôi vẫn không có câu trả lời chính xác. Tôi biết giáo sư Minh trong những lần tiếp xúc, làm việc như một phụ tá của ông, tôi thấy ông dùng những từ ngữ rất chính xác. Đôi khi tôi tưởng là mơ hồ, là lời của một người đàn ông trí thức, muốn tỏ tình với một phụ nữ như những lần, ông hỏi tôi:
– Hạ Hạ có thấy gì không?
Hay những lần, giáo sư Minh không biết vì vô tình hay cố ý áp gần kề tai tôi, ông hỏi:
– Hạ Hạ, có nghe thấy gì không?
Những lần như thế, tôi đều lặng thinh không trả lời nhưng ông cũng chẳng hỏi thêm tôi điều gì để cố ý mơn trớn tôi. Những lúc như vậy, tôi định hỏi lại ông muốn hỏi tôi nghe thấy điều gì? Nhưng thôi, tôi không dám hỏi, mà nỗi lo âu từng phút từng giây ám ảnh tôi.
Như có một lần, giáo sư Minh đã kẹp trong một trang sách, một mảnh giấy thật nhỏ và ông nói với tôi:
– Cô đọc thật kỹ và cho tôi biết thật chính xác, rõ ràng về việc này, nghen cô … Hạ Hạ.
Tôi định mở tờ giấy nhỏ, xếp làm tư ra đọc. Ông ngăn tôi lại và bảo:
– Hạ Hạ không cần thiết phải đọc ngay bây giờ, và ngày mai trả lời cho tôi cũng được.
Tôi muốn đọc ngay, để giải quyết mọi thắc mắc đang xâm chiếm tâm hồn tôi.

Hôm đó, ngồi đọc sách và ghi chép những điều ông căn dặn mà hồn thì đang đi theo những dòng chữ trong trang giấy xếp. Tim tôi hồi hộp, đập mạnh, nên tôi đọc không trôi chảy như những lần bình thường khác. Giáo sư Minh tưởng tôi bị cảm lạnh, nên ông cho tôi nghỉ sớm và cũng không cho tôi tập lái xe chiều hôm đó!
Tôi rảo bước nhanh về phòng, lấy mảnh giấy ra đọc, thì đó là một câu hỏi có tính cách tham khảo về triết học Khổng Tử.

Rồi chuyện gì phải đến đã đến. Chiều hôm đó, ông đã hẹn với Tuấn lúc 3 giờ, nhưng mới đến hai giờ chiều, ông cho vú già gọi tôi ra phòng khách. Tôi cùng đến phòng khách với vú già.
Tôi thấy ông đang đứng đợi, với trang phục sang trọng, hai tay sau lưng như ra vẻ vội vàng.
Ông nói với tôi:
– Tôi có hẹn với Tuấn đến đây lúc 3 giờ, để bàn với cậu ấy một vài công việc nhưng vào phút chót, mấy ông bạn của tôi lại mời ăn cơm tối để bàn với nhau một vài công việc. Tôi không thể không tham dự được. Vậy cô ở nhà, thay tôi tiếp chuyện và cùng ăn cơm tối với Tuấn.
Rồi Giáo sư Minh đã quay sang vú già nói:
– Bà Hai, không cần phải báo với Tuấn, tôi vắng mặt buổi cơm tối nay. Đã có cô Hạ Hạ thay tôi rồi.
Vừa nói, ông vừa rão bước ra xe. Ông đi rồi, để lại cho tôi nỗi bàng hoàng khó tả.

Chẳng bao lâu, Tuấn lại đến. Vừa thấy tôi đang tư lự ở phòng khách, tôi chưa biết nói với Tuấn điều gì, Tuấn đã hỏi vú già:
– Ba tôi đâu rồi vú? Sao không thấy xe ông ở nhà?
Vú già nói:
– Ông chủ vừa đi vì có hẹn gắp. Ông có dặn cô giáo nói với cậu điều gì đó. Cậu hỏi thử cô giáo ra sao? Chứ vú không rành lắm.
Vừa nói xong, bà vừa rảo bước vừa nói:
– Để vú pha trà cho cô và cậu nghen!
Nói xong bà đi nhanh ra phòng sau.

Còn lại Tuấn và tôi, nơi phòng khách. Tuấn nhìn tôi như muốn hỏi: “Ba tôi đi đâu rồi?”
Tôi lập lại những gì giáo sư Minh đã nói với tôi, nhưng Tuấn cũng không ngạc nhiên gì cho lắm.
Chàng nhìn tôi:
– Cũng tốt. Chẳng sao! Thôi mình ra nhà mát ngồi uống trà chờ cơm tối cũng được, phải không Hạ Hạ?
Tôi bước theo Tuấn ra nhà mát. Tuấn ngồi trên chiếc võng còn tôi vẫn ngồi trên chiếc ghế xếp như thân phận của tôi hàng ngày.
Tôi và Tuấn ngồi không bao lâu, vú già đã mang trà và cà phê ra cho chúng tôi.
Tôi lấy tư cách như chủ nhân tiếp khách, nên tôi rót trà mời Tuấn.
– Mời Tiến sĩ Tuấn dùng trà!
Tuấn đáp:
– Cám ơn cô Giảng Viên của Viện Đại Học Đà Lạt!
Tôi nói với Tuấn:
– Đừng gọi tôi như thế! Cứ gọi tôi là Hạ Hạ!
Tuấn cũng chẳng vừa:
– Hạ Hạ cũng đừng gọi tôi như thế, mất tự nhiên. Cứ gọi tôi là Tuấn!
Tôi giải thích sự vắng mặt của giáo sư Minh cho Tuấn nghe:
– Rất tiếc vào phút chót giáo sư Minh bị bận, nên lỡ hẹn với anh!
Tuấn điềm đạm trả lời:
– Hạ Hạ chưa hiểu ba tôi đâu! Chiều nay ông chẳng có hẹn với ai mà ông chỉ muốn tránh mặt, để tôi gặp riêng Hạ Hạ thôi.
Tôi vô cùng ngạc nhiên:
– Sao lại có chuyện ấy? Mà sao anh biết giáo sư Minh không có ai hẹn chiều nay?
– Tôi biết chứ! Ba tôi không bao giờ nhận lời mời với bất cứ ai ăn tối và họp hành gấp như vậy!
Tuấn nhìn tôi:
– Cô nghĩ lại đi. Các ông ấy toàn là các tiến sĩ lão thành, đã không hẹn với nhau thì thôi, nếu đã hẹn thì phải hẹn trước một hai tuần lễ chứ không bao giờ gọi điện thoại rồi chỉ hẹn trước một hai giờ đâu. Mà nếu như có ai đó mời ba tôi gấp như vậy, ba tôi cũng chẳng nhận lời!
Tuấn nhìn sâu vào mắt tôi, nói tiếp:
– Chỉ trừ cuộc hẹn của má tôi, ông sẽ đến ngay!
Tuấn nói thăm dò:
– Cũng như tôi, ai mà hẹn gấp như thế, tôi cũng sẽ từ chối, ngoại trừ … ngoại trừ một người thôi!
Tuấn nhìn tôi âu yếm:
– Người ấy là Hạ Hạ!
Tôi vô cùng sung sướng vì được Tuấn nịnh nhưng tôi giả vờ như chẳng nghe thấy gì. Tuấn thấy tôi lặng thinh, nên hỏi tiếp:
– Hạ Hạ, em có nghe Tuấn nói gì không?
Bữa đó, hình như nắng hè còn le lói giọt buồn.
Tuấn ngồi trên chiếc võng treo lủng lẳng bên cạnh chiếc ghế xếp là nơi tôi đang ngồi nhâm nhi ly cà phê đắng.
Chiều hôm đó, tôi vẫn ngồi trên chiếc ghế xếp, bên cạnh cây trúc, để dựa lưng vào thành ghế, hai chân gác trên sàn gỗ. Tôi có thể nghe thấy lời tỏ tình của Tuấn, phảng phất trong hơi thở của tôi, hòa với nắng ấm nghe chênh vênh.
Rồi da thịt tôi cũng quyện với mùi cỏ cây, khi Tuấn dùng chân đẩy nhẹ chiếc võng cho gần cái ghế xếp, Tuấn giữ chặt lấy thành ghế xếp tôi đang ngồi, thì thào:
– Em có nghe thấy gì không, Hạ Hạ?
Tôi chưa biết trả lời sao! Trong lúc đó có tiếng chim đang hót, át hẳn tiếng đập nhẹ của con tim tôi đang thổn thức.
Bỗng tôi nghe Tuấn hét lớn:
– Phoenix! Phoenix!
Tên một loài chim rất lạ với tôi. Trước đây, tôi chỉ được nghe chim Ưng, Hải Âu chứ làm gì nghe được Phoenix!
Tuấn thì thầm bên tai tôi:
– Tuyệt vời! Em đẹp như Phoenix!
Thỉnh thoảng Tuấn dùng chân đẩy cái võng gần tôi hơn để nghe tôi trả lời. Tôi nhìn trời, rồi giả vờ xích đầu tôi ra xa Tuấn hơn, cố tìm những cánh chim trong những đám mây trắng đang trôi bềnh bồng thật thấp. Tôi định hướng nhưng không làm sao tôi nhớ được những cánh chim bay trong vòm trời vô định.

Tuấn biết tôi sợ, cố tránh né, nên chàng điềm đạm, nói thong thả từng tiếng một:
– Hạ Hạ! Đừng sợ! Anh không bao giờ có ý định làm hại em đâu!
Tôi nghe rất rõ, chữ ’em’ Tuấn nói thật rõ ràng, âm thanh thật trìu mến.
– Hạ Hạ à! Anh đã biết tình cảm của em đã dành cho anh. Anh trân trọng điều đó!
Tuấn thầm lặng. Tôi chẳng nói gì. Một chập lâu sau, Tuấn hỏi tôi:
– Em có nghe thấy anh nói gì không?
Tôi đáp:
– Dạ có! Em có nghe tiếng con chim Phoenix hót!
Tuấn hỏi:
– Còn nghe thấy gì nữa không?
Tôi đáp lơ lửng:
– Có gì nữa đâu?
Tuấn nhìn tôi đắm đuối hỏi:
– Chứ Hạ Hạ không nghe con chim Phụng Hoàng, nó nói với bạn tình,
“Tôi yêu Hạ Hạ sao”?
Tôi nhìn Tuấn, thong thả đáp:
– Nào em đâu có nghe con Phụng hoàng, nó nói gì đâu?
Vừa lúc đó, Tuấn ôm chặt lấy tôi. Chàng hôn tôi thật lâu.

Chiều đã tắt nắng…
Chiều hôm ấy, chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, chờ đàn chim trời về. Tuấn kể cho tôi nghe chuỗi ngày thơ ấu. Rồi tôi cũng kể cho chàng nghe những ngày còn cắp sách đến trường.
Trong khoảnh khắc, sân sau thật yên tĩnh. Không một tiếng động, ngoại trừ vài tiếng kêu chiêm chiếp của bầy se sẻ vừa mới nở trên hiên nhà.
Đàn chim vẫn lẩn tha lẩn thẩn đâu đây. Tôi cảm nhận được sự có mặt của Tuấn tại nơi đây. Chiếc võng, cái ghế xếp và lời tỏ tình của Tuấn vẫn còn mùi cà phê phảng phất thơm ngon. Các ngăn tim của tôi như òa vỡ.
Tôi nhìn Tuấn chuyển sang chuyện khác, để khỏi phải trả lời trực tiếp với Tuấn nhưng tôi cũng mong chàng hiểu được tôi.
Tôi nói với Tuấn:
– Biết đâu đàn chim đang muốn chơi trò cút-bắt-năm-mười với chúng ta, mà đàn chim đang trốn trong những lùm cây quanh nhà, hay trong những kẽ hở của mái hiên.
Tuấn đáp:
-Vậy em có muốn chơi trò hú tim với anh không?
Chàng siết chặt tay tôi trong tay chàng. Tuấn tiếp:
– Nhưng em đừng trốn anh lâu nghen. Chỉ trốn vừa đủ để anh khỏi trông, khỏi đợi, khỏi chờ nghen!
Tay tôi vẫn còn nằm trong lòng bàn tay của Tuấn, tôi vội rút tay về nhưng Tuấn vẫn còn giữ chặt tay tôi trong tay chàng:
– Anh bắt được con chim Phoenix rồi! Đừng trốn anh nữa! Thời gian cũng đã quá đủ. Hạ Hạ, anh yêu em!
Tôi chưa dám nói gì với Tuấn. Tôi chỉ lặng thinh, nhìn lên bầu trời trong xanh. Một cụm mây tím lơ lửng thật thấp, lốm đốm vài vệt mây trắng lang thang. Tôi ngước nhìn, đàn chim vừa bay vừa chạy, tìm đường về đây. Gió thổi se se lạnh. Tôi nhìn thấy đàn chim rồi! Những cánh chim xoải rộng cánh, hai chân khép kín, đôi mắt liêng liếc nhìn xuống sân sau. Đàn chim là niềm vui và cũng là nỗi buồn của tôi. Niềm vui khi chim đến và nỗi buồn khi chim bay đi.
Sau đó đàn chim cũng vội vả vẫy cánh chào chúng tôi, để bay về một khung trời xa lạ nào đó. Phút chia tay cũng đầy lưu luyến. Chim bay, chìa đôi cánh, như đôi tay vẫy chào người ở lại, ngậm ngùi tiếc nuối. Những vệt trắng của đôi cánh tràn ngập trong khung trời nhung nhớ.
Riêng mấy con se sẻ vẫn còn lủi thủi nhảy từng bước một, dọc theo hàng rào sau khi thấy các con chim khác to lớn hơn, đang lần lượt bay đi. Một vài con bồ câu trắng, đang đứng hóng mát dưới lùm cây. Có con đậu trên mấy cái giỏ hoa treo lủng lẳng trên các cành thông.
Những lúc tôi ngồi chờ đàn chim, sà xuống, để cõng hồn tôi đi, đó là giây phút tĩnh lặng nhất! Và cũng thật hoang đường nhất!
Bỗng dưng tôi buồn. Rõ ràng chim muông là của bầu trời..
Hôm nay, một chiều nắng ráo, tôi vẫn nghe hồn mình hối hả. Đàn chim về trong lùm cây sau ngôi biệt thự. Tôi thấy thấp thoáng trong tim muôn ngàn hạt gạo, sắp sửa tung đầy sân sau.
Buổi chiều hôm nay, nhìn lên bầu trời trong xanh, những cụm mây hồng sẽ tô điểm đàn chim bay xa, bỗng tôi thấy nhớ chúng.
Hôm nay sao tôi vẫn còn dại khờ. Mênh mang gió lộng dật dờ nhớ chim.
Trong sân vẫn còn vài con bồ câu trắng không tranh giành với bất cứ loài chim nào khác. Tôi để ý, theo dõi, quan sát … khi một con bồ câu đang đứng gõ mồi, nhưng có một chú chim khác đến tranh mồi, chú chim bồ câu lủi thủi bỏ đi, tìm mồi ở một nơi khác rất bình an, như không hề có chuyện gì xảy ra. Đôi khi nó còn cất tiếng gáy trong vô minh, tự tại, thật an nhàn… rồi rảo bước đến rỉa lông cho người bạn tình đang ngẩn ngơ bên hàng bông giấy tím.
Trong góc sân, một con bồ câu khác vừa tha miếng mồi, vừa bay vụt lên cao. Tôi nhìn theo, một chú chim bồ câu khác cũng cát cánh bay đi. Hai con đang âu yếm mớm mồi cho nhau. Tôi liên tưởng như chính Tuấn đã mớm nửa trái ổi chua cho tôi, trong sân sau vắng lặng, để nghe bờ môi mình vẫn còn ngọt lịm.
Lũ chim trời đã bay đi. Giờ đây, tôi chỉ còn lại mỗi một con bồ câu trắng, hiền hòa, ngồi chung trên võng với tôi, hai chân đong đưa dưới vệt nắng cuối ngày.
Tuấn thấy tôi lặng thinh, chàng tưởng tôi không nghe thấy chàng nói gì, nên Tuấn lại thì thầm:
– Hạ Hạ! Anh yêu em!
Tôi mơ hồ nghĩ đến những ngày Tuấn sống chung với Loan Loan. Tôi giận Tuấn và tự hỏi:
“Sao Tuấn không trao cho tôi tình đầu của Tuấn, mà chàng lại trao cho Loan Loan”. Tôi đẩy nhẹ bàn tay chàng đang xoa nhẹ vai tôi. Tôi hỏi Tuấn:
– Anh đã nói câu đó với bao nhiêu người rồi?
Chừng một chập lâu sau, chàng tìm câu đáp:
– Chỉ với một mình em!
Tôi nghiêm nghị hỏi chàng:
– Và còn ai nữa? Và đã thề thốt với ai bao nhiêu lần rồi?
Tuấn đáp thật nhanh:
– Chỉ yêu và chỉ thề thốt với Hạ Hạ thôi!
Tôi hỏi:
– Còn Loan Loan thì sao?
Tuấn lúng túng:
– À! Mà chuyện đó đã qua lâu lắm rồi! Đừng nhắc nữa! Bây giờ thì chỉ còn lại có mỗi một mình con chim Phoenix này thôi!
Tôi nghẹn lời:
– Nhưng Hạ Hạ ghen chứ bộ!
Vừa lúc đó, vú già ra hỏi chúng tôi:
– Đến giờ cơm tối rồi đó! Nói trước để vú chuẩn bị nghen.
Tuấn nhìn tôi như thăm dò. Chàng thấy tôi không có thái độ gì, nên quay sang nói với vú già:
– Vú cứ để tự nhiên cho chúng con. Khi nào chúng con muốn ăn sẽ báo trước cho vú!
Chàng bước tới, ôm vú và siết chặt vai bà như thầm nói ‘Vú thông cảm với chúng con nghen vú!’.
Vú già cười tươi và đi vào nhà, không nói lại với Tuấn, một lời nào, như vú đã thầm bảo: ‘Vú biết mà!’

Những tia nắng cuối ngày cũng vừa lịm tắt.
Trời mát dìu dịu. Ngoài trời vài ngôi sao lấp lánh. Tuấn rủ tôi:
– Mình đi ra phía sau biệt thự ngắm trăng được không Hạ Hạ?
Tôi không đáp nhưng nhẹ bước theo chàng… Tuấn đã bước ra khỏi nhà mát. Chàng hướng dẫn tôi đi qua một con đường mòn, giữa hai hàng cây trụi lá, đang ngủ.
Không gian như lặng lờ, chìm nghỉm bên lưng đồi thâm u. Tiếng nói trìu mến của chàng đưa tôi đi trên con đường dốc đá, dẫn đến một thung lũng rộng. Chúng tôi hướng về ngọn đồi sau lưng biệt thự.

Mùa hè tươi thắm với những nụ hoa rừng chen lối đi. Con đường có lúc bị cắt ngang bởi một con rạch nhỏ, nước trong veo. Chàng rủ tôi qua bên kia rừng thông hóng mát. Trời trong vắt không một gợn mây. Ánh trăng treo lơ lửng trên những ngọn cây, chiếu ánh sáng dìu dịu.
Bóng chàng trải dài trên cỏ dại, đôi lúc bao phủ bóng dáng tôi như hai bóng đang nằm chồng chất lên nhau. Tôi hoảng sợ trong giây lát rồi thấy mình lênh đênh như các cánh hoa rừng đang lay động. Tâm tư như ngút ngàn ngây ngất.

Đến một sườn đồi dốc đứng, lại không có chỗ bấu víu. Tuấn đưa tay cho tôi vịn, để bước xuống một khe đá. Bỗng nhiên tôi đặt tay tôi trong lòng bàn tay chàng. Rồi cả thân người tôi cũng vừa nằm trọn trong lòng chàng. Tuấn hôn tôi dưới ngàn sao thắp sáng. Tôi không phản đối, ngửa mặt nhìn chàng. Tuấn siết chặt và tôi lặng lờ đắm chìm trong nụ hôn đầu đời của người con gái.
Trời đất mênh mông, quay cuồng. Sao rừng cũng lặng thinh, sau âm thanh dồn dập, huyễn hoặc đó! Da thịt tôi đi hoang sau nụ hôn nồng nàn của Tuấn.
Trăng rơi nhè nhẹ trên tóc tôi. ngã dần trên đồi vắng, tỏa sáng lưng đồi. Tình yêu cũng đang gần gũi, hiện diện trong xương tủy tôi.
Chúng tôi dừng lại gần một phiến đá trắng. Cả hai đứa ngắm nhìn trăng sáng sau lưng đồi.
Khi trăng chiếu thẳng vào vai áo tôi, lóng lánh tựa hồ như trăng đang nâng niu những sợi tóc tôi như tơ vàng, mỏng manh. Bất giác Tuấn nói với tôi:
– Tuyệt vời! Phoenix của anh đẹp thật. Lần đầu tiên trong cuộc đời, anh mới thấy mái tóc của một nàng tiên… dưới ánh trăng đẹp ra làm sao!
Tôi nụng nịu với chàng:
– Em đâu phải là tiên. Tóc em cũng chẳng phải là tóc tiên!
Chàng nhìn tôi say đắm:
– Anh thật sự không tin là có tiên trên trời nhưng chắc chắn em là tiên trong cõi đời này và tóc em còn đẹp hơn tóc tiên nữa đó!
– Thật vậy không?
– Sao không thật!
Hồn tôi như chìm xuống. Một phút ghen-ghen trỗi dậy. Tôi cật vấn chàng:
– Còn có tóc ai là tóc tiên nữa không?
Tuấn trầm ngâm rồi lại thật thà, vang vọng:
– Không! Không có ai! Chỉ có mỗi một … suối tóc tiên, óng ánh như dải nắng vàng này thôi.”
Vừa nói, chàng vừa nâng tóc tôi như chàng đang hong tóc dưới ánh trăng. Tôi bẽn lẽn vội quay mặt đi chỗ khác, vừa nhìn trăng vừa bước xuống đồi.
Dưới ánh trăng vằng vặc, một cặp thỏ rừng đang chờn vờn, đùa giỡn bên nhau, trên một bờ đá sõi trắng. Tuấn vừa níu tay tôi vừa chỉ:
– Nhìn kìa! Một cặp thỏ rừng đang tung tăng kia kìa!
Tôi xuýt xoa :
– Dễ thương quá!
Tuấn thăm dò:
– Hạ Hạ! Em có yêu ai chưa?
Tôi đáp:
– Em chưa yêu ai.
Tuấn hỏi lại:
– Sao vậy?
– Vì em đang đợi một người.
Tuấn vồn vã hỏi:
– Lâu chưa?
– Chưa lâu lắm!
– Ai vậy?
Tôi nói khẽ:
-Muốn biết thật sao? Hạ Hạ không nói cho ai biết đâu! Bí mật của con gái mà!
Tuấn van lơn:
– Cho Tuấn biết đi! Em đang chờ ai vậy? Nói nhanh đi! Nói thật lòng mình đi! Chờ ai? Yêu ai? Hạ Hạ!
Tuấn đang đứng phía sau lưng tôi. Tôi nghe thấy gáy mình nóng ran lên, tim hồi hộp, đập mạnh. Tôi không biết Tuấn có hiểu câu trả lời hững hờ của tôi không, nên Tuấn thúc giục:
– Nói đi Hạ Hạ! Nói đi! Em chờ ai?
Tôi vẫn đứng im, thầm lặng, nhưng tôi hiểu, chàng đã biết tôi nói gì rồi. Không bao lâu sau, tôi nhìn thẳng vào mắt chàng, mỉm cười:
– Em chờ một vì sao hôm nay! Em cũng đã chờ một người ngồi đàn một mình trong phòng vắng.
Môi tôi mấp máy. Giọng tôi thanh thản rõ ràng, thật dịu dàng:
– Em yêu tiếng đàn anh! Tôi yêu người đang đàn.
Tôi ngừng một vài giay, rồi cất giọng rõ ràng, từng tiếng một: -Và tôi yêu…anh …nữa!
Tuấn đứng lặng thinh, ngất ngây đến mấy phút sau. Chàng ẵm tôi lên, quay một vòng. Trong lúc đó,
một tay tôi níu chặt vai chàng, tay kia tôi buông thỏng xuống như muốn tận hưởng những cuồng say mà lần đầu tiên, tôi được một người đàn ông bồng tôi lên, như thể tôi đang theo chàng từng bước trong âm thanh thật dị kỳ mà trí óc tôi đang tưởng tượng, thân thể tôi đang cuộn tròn trong xương tủy
cuồng nhiệt của Tuấn.
Tôi vẫn còn nằm gọn trong vòng tay ân cần của Tuấn. Chàng bồng tôi đến, một phiến đá trắng, nằm chênh vênh giữa một con lạch nhỏ, hai hàng cây che phủ.
Chàng đặt tôi nằm xuống phiến đá. Tuấn ngồi bên cạnh. Hai tay vỗ nhẹ vào lưng tôi như thể chàng đang ru tôi ngủ.
Dưới ánh trăng ngà ngọc, mờ ảo. tôi nghe thấy ngực tôi no tròn, phập phòng theo hơi thở, nhịp nhàng lên xuống.
Máu thịt, xương tuỷ tôi rộn ràng như thể tôi đang chèo trên một chiếc thuyền nan, dạt dào sóng nước mênh mông.
Tôi vẫn nằm im, để lắng nghe tiếng mấy con dế rừng hát tìm bạn tình, xen lẫn với tiếng Tuấn ru tôi ngủ.
– Ngủ đi Hạ Hạ! Biết đâu mai kia, mốt nọ, anh không còn được có dịp ru em ngủ trong cảnh trời sao lấp lánh như thế này.”
Tôi thầm cám ơn Tuấn vì chàng đã cho tôi những giây phút thật thơ mộng.

Bỗng chốc tôi choàng dậy và nhớ ra là mình và Tuấn, sau buổi cà phê tối, cả hai đứa chúng tôi đã có những lời hẹn ước rất trong sáng. Tôi đã nói với Tuấn:
– Em sẽ cho anh tất cả những gì mà em có. Anh ráng chờ em vài năm nữa, để em chính thức trở thành giáo sư thực thụ của Viện Đại Học nghen anh.
Tuấn vui vẻ trả lời:
– Anh hứa sẽ chờ em! Dù anh phải chờ em suốt cả đời này!

Tôi thiếp đi và thức giấc sau một cơn mộng bình thường.

Chương Tám
Phu Nhân và Tôi

Sáng Thứ Bảy, hôm đó, trời vừa rạng đông, tôi chợt thức giấc vì tiếng ai đang đàn piano, trên lầu 2, nơi có đặt một cây đàn piano bằng gỗ mun tuyệt đẹp.
Thỉnh thoảng vào những ngày nghỉ lễ hoặc Thứ Bảy hay Chủ Nhật, Tuấn vẫn thường về đây đàn cho tôi nghe và sau đó chúng tôi rủ nhau xuống phòng khách ngồi uống cà phê và tâm tình cùng nhau.
Sau đó, Tuấn cũng ở lại ăn cơm trưa và dùng cả cơm chiều cùng với giáo sư Minh và lẽ dĩ nhiên cũng có tôi trong những bữa cơm tràn đầy ấm cúng đó.
Giáo sư Minh vẫn ân cần xem tôi như một cộng sự viên của ông. Tuy không nói ra, nhưng lúc nào ông cũng dành thời giờ thuận tiện để Tuấn và tôi trao đổi những nhận định về nhân sinh quan. Có khi thì dị biệt cũng có lúc chúng tôi cùng một quan điểm với nhau.
Giáo sư Minh không bao giờ góp ý với chúng tôi về những vấn đề khá phức tạp đó.
Thường thường sau giờ ăn tối, ông hay ra vườn đi quanh quẩn, nhả khói thuốc pipe rồi trở về phòng riêng, gọi điện thoại nói chuyện với vợ.
Tuấn đợi tối mịt mới chịu trở về biệt thự riêng của chàng.
Nhưng sáng hôm nay, khi mới nghe tiếng đàn dạo bản ‘Tình Si’ tôi cũng ngỡ là chàng và tự hỏi sao hôm nay Tuấn đến đây sớm quá vậy.
Tôi lắng nghe tiếng đàn.
Trời Đà Lạt se lạnh, dù trăng hạ vẫn còn ngập ngừng hư ảo trên lối đi.
Bên kia đồi thông vẫn còn phủ đầy một vầng mây mỏng đang xao xuyến giữa trời mây.
Tiếng đàn bỗng chìm nghỉm dưới mạch sầu ray rứt.
Tôi chết đi trong men tình diệu vợi.
Tiếng đàn từ bể sâu thăm thẳm bỗng chốc trổi dậy trong tiềm thức nhạt nhòa xa xưa.
Tôi nghe thấy tiếng đàn đong đưa thật dài rồi ngập ngừng ngẩn giọng xót xa trong nỗi mơ màng, hụt hẩng để những thanh âm khác kế tiếp kéo dài trên đồi thông xám xịt, với nhịp tim tràn đầy mộng mơ của một buổi sáng… còn đang chờn vờn trong sương mù giăng thật thấp trên cỏ cây ngậm ngùi.
Phải rồi! tôi vẫn còn ngồi đây đợi mà người tình đâu rồi!
Tôi lạc đi cùng với hạnh phúc trên vai.
Tôi lắng nghe những notes đàn không trở về để dư âm thôi thúc rồi đậu lại ở đâu đó trên gác chuông nhà thờ gõ 5 tiếng thanh thoát nghe như tiếng sương khuya chưa tan.
Tôi nhìn ra khung cửa sổ, trải dọc dài xuống tận duới lưng đồi, mơ hồ như có bóng dáng của Tuấn đang leo dốc… tìm thăm tôi, bỗng dưng nhớ … bỗng dưng buồn.
Tôi định hình: – Tiếng đàn màu gì?
Ngỡ ngàng, tôi không thể phân biệt được, ngôn ngữ của tiếng đàn có màu sắc gì?
Có lẽ tiếng đàn là màu lưu ly như nắng rung tà áo? Một màu sắc chỉ có trong âm thanh hoang đường như mây hồng vỡ cánh hoa rơi.
Thanh âm lúc thật cao, lúc chìm nghỉm dưới vệt sầu ray rứt của tiếng nất gọi mời.
Sao vậy?
Ai đang đàn thế?
Vì chỉ có thanh âm cùng cảm của rừng núi tĩnh mịch mới định hình được màu sắc của tiếng đàn đang trôi nổi bồng bềnh trên những giọt sương sa.
Tiếng đàn chợt tắt hẳn để nhường chỗ cho ký ức đong đưa như vừa vỡ vụn. Lòng tôi rộ lên niềm hớn hở vì sắp được gặp Tuấn.
Trong ảo giác, một buổi bình minh lưng lững một trời vui, tôi thấy trời mây tươi mát, bầu trời trong xanh, chờn vờn những áng mây hồng mà nghe như tiếng rơi thăm thẳm giọt sương khuya.
Phải rồi tôi đã nghe tiếng đàn đó ở một nơi thật đầm ấm, lẫn lộn trong tiếng cười vui của một ngày nắng thật đẹp trong một căn phòng xinh xắn với một cặp tình nhân hiền hòa của thành phố buồn, chân chưa đi, đã mỏi…
Thật hoang đường! Tôi đưa hai bàn tay nhỏ xíu của ‘người con gái đang sống xa nhà’ để cố rượt bắt những âm thanh kỳ bí đang trôi bềnh bồng, lang thang theo một đám mây hồng bay thật thấp.
Hạnh phúc đến với tôi quá đỗi. Các âm thanh vừa nằm trọn trong năm ngón tay của tôi. Tôi cất giữ những âm thanh dị thường đó vào tâm tư riêng của mình, để giữ gìn tiếng đàn, bên ly cà phê pha thật đậm, mỗi buổi sáng, tôi chờ Tuấn đến để đàn cho tôi nghe những thanh âm huyền diệu đó!
Tôi lặng thinh, thay quần áo và bước nhẹ lên thang lầu.
Tôi đứng bên ngoài nhìn vào.
Tôi vô cùng ngạc nhiên vì người đang đàn không phải là Tuấn mà là một phụ nữ, có thân hình mảnh mai, hai tay bà đang lướt nhẹ trên các phím ngà, trong khi đó vai bà cũng đong đưa theo tiếng nhạc rả rích âm điệu còn bay bổng.
Tôi nép mình vào cánh cửa. Tình cờ tiếng người phụ nữ hỏi tôi:
– Hạ Hạ con đó sao?
Tôi giật mình lúng túng, nhẹ bước vào phòng, cung kính thưa:
– Thưa Phu nhân. Con nghe tiếng đàn quá tuyệt vời, nên con đã vô lễ lén nghe tiếng đàn của Phu nhân. Mong Phu nhân tha lỗi cho con.
Phu nhân vẫn nhỏ nhẹ, bà không ngẩng đầu nhìn tôi, mười đầu ngón tay ngà ngọc, nhỏ xíu như những búp măng, lướt nhẹ trên các phím ngà. Bà nói:
– Không có chi đâu Hạ Hạ! Chính ta đã làm con thức dậy sớm hơn mọi ngày.
Bà liếc nhìn đồng hồ đang treo lủng lẳng trên vách tường, rồi quay mặt nhìn tôi:
– Nhưng không sao! Sáng nay ta cũng muốn nói chuyện với con.
Vừa nói bà vừa đẩy chiếc ghế vào sát cây đàn, vừa đứng dậy.
Phu nhân đứng trầm lặng hướng mắt về một cõi xa, bỗng quay phắc lại, mắt bà dịu dàng nhìn tôi.
Bà nói:
– Cũng đã sáng rồi. Chúng ta đi xuống phòng khách, uống cà phê nghen?
Vừa nói bà định bước xuống cầu thang. Tôi nhanh chân bước xuống trước bà một cấp, như để đề phòng nếu bà bị vấp ngã.
Phu nhân vừa bước xuống vừa cám ơn tôi.
Chúng tôi vừa xuống tới cái bàn nhỏ, đặt cạnh cửa ra vào, để có thể nhìn thấy mấy hàng hoa Ly Ly đang e ấp trước gió.
Vú già cũng vừa mang đến một cái khay trà khảm xà cừ, có hai tách cà phê với một bình trà cùng hai cái tách màu trắng thật xinh xắn.
Vú già đặt một ly cà phê và một tách trà trước mặt Phu nhân, sau đó bà đặt tách cà phê và một tách trà nữa trước mặt tôi.
Vú già để bình trà vào giữa bàn, nhìn tôi như cố nhắc nhở tôi nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói với Phu nhân.
Vú già nói:
– Mời cô giáo cùng uống trà và hầu chuyện với Phu nhân.
Tôi nhìn vú già với ánh mắt đầy hàm ơn.
Tôi khẽ đáp:
– Dạ. Con xin cám ơn vú già.
Tôi nâng bình trà và rót vào tách của Phu nhân và lễ phép mời:
– Xin mời Phu nhân dùng trà.
Phu nhân từ nãy giờ vẫn chăm chú nhìn tôi có ý thăm dò.
Bà đặt ngón tay trỏ của bàn tay phải vào quai của tách trà, rồi xoay nhẹ tách nửa vòng tròn.
Hơi nóng bốc lên nghi ngút, lan tỏa như áng mây bay ngỡ ngàng.
Bà nhìn tôi âu yếm nói:
– Hạ Hạ, con rót trà cho con và cùng uống với ta chứ!
Tôi rót trà vào tách, bưng lên và trịnh trọng mời:
– Thưa Phu nhân. Mời Phu nhân uống trà.
Phu nhân đưa tách trà vào môi, bà hỏi khẽ.
– Hạ Hạ, con còn độc thân chứ?
– Dạ thưa Phu nhân. Con còn độc thân.
– Ba Mẹ con đang ở Sài Gòn chứ?
– Dạ thưa Phu nhân, đúng vậy.
– Ông bà làm gì? Và hiện nay đang ở đâu?
Hạ Hạ nhìn Phu nhân, không chút e dè:
– Ba con đã mất sớm. Con chỉ còn mẹ. Nhà con ở trong một con hẻm nhỏ trên đường Bùi Viện.
– Mẹ con đang làm gì ở Sài Gòn?
Tôi đã chuẩn bị câu hỏi này từ lâu, nên không còn ngần ngại nên tự tin trả lời.
– Dạ thưa Phu nhân. Mẹ con đang bán xôi dạo.
Tôi thấy Phu nhân hơi khựng lại, có vẻ ngạc nhiên trong giây lát, bà khẽ hỏi tôi:
– Con và Tuấn đã trao đổi với nhau những gì rồi?
– Chúng con chỉ đề cập đến một vài vấn đề thuộc về tương lai thôi.
– Con nói cho ta biết được không?
– Dạ chúng con đã bàn những việc như sau:
Cá nhân con sẽ phải học thêm để dủ điều kiện trở thành giáo sư thực thụ của Viện Đại Học Đà Lạt, dưới sự hướng dẫn của Giáo Sư Minh.
Còn phần anh Tuấn sẽ cố gắng tìm ra phản ứng hóa học trong lãnh vực nguyên tử học.
Bà hỏi tiếp:
– Còn chuyện hôn nhân của chúng con thì sao?
– Thưa phu nhân, chúng con chưa dám lạm bàn về vấn đề ấy vì còn phải chờ quyết định của Phu nhân và Giáo Sư Minh.
Bà nhìn tôi có ý hài lòng nhưng còn thắc mắc, nên bà trầm giọng hỏi:
– Tuấn có biết về hoàn cảnh gia đình của con không?
– Thưa Phu nhân, anh Tuấn chưa bao giờ đề cập đến gia đình của con.
Ánh mắt của Phu nhân không còn thể hiện những nét vui. Trên môi bà cũng đã tắt mất nụ cười duyên dáng. Bà ngồi im như pho tượng nhưng những cử chỉ ấy đủ khiến lòng tôi thêm đau xót.
Tôi chợt nghĩ đến Mẹ, suốt đời của mẹ hy sinh cho tôi.
Nét lo âu, tiều tụy của Mẹ! Cả cuộc đời Mẹ chỉ ước mơ và chờ đợi ngày tôi đi làm.
Lúc tôi còn đi học, bà hằng nguyện cầu cho tôi sớm thi đậu để con của Mẹ khỏi khổ.
Hạ Hạ biết, rồi đây, mai sau, vấn đề môn đăng hộ đối, cũng sẽ được đặt ra và đó cũng là những trở ngại cho cuộc hôn nhân của nàng và Tuấn.
Hạ Hạ đang suy nghĩ miên man, bỗng có tiếng Phu nhân hỏi:
– Hạ Hạ có biết trước đây vài tháng, Tuấn đã mua một biệt thự gần đây không? Và Tuấn có bao giò đưa con về thăm biệt thự đó lần nào chưa?
– Dạ thưa Phu nhân. Anh Tuấn có cho con biết ngôi biệt thự đó. Con cũng có đến biệt thự của anh Tuấn một vài lần.
Anh Tuấn cũng có cho con biết, anh dùng biệt thự đó để nghiên cứu các vấn đề về khoa học và dùng làm các phòng thí nghiệm về phản ứng hóa học thực nghiệm.
Bà nghiêm nét mặt, hỏi thăm dò:
– Còn biệt thự Đỉnh Sương Mù, hai con sẽ tính sao?
– Con nghe anh Tuấn nói:
– Biệt thự Đỉnh Sương Mù là mồ hôi nước mắt của Phu Nhân và Giáo sư Minh gầy dựng, do đó khi Phu nhân và Giáo Sư về hưu, biệt thự Đỉnh Sương Mù sẽ là nơi tĩnh dưỡng của Phu nhân và Giáo Sư.
Phu nhân mỉm cười. Bà nhìn Hạ Hạ, ân cần nói tiếp:
– Chúng tôi dự định khi hưu trí sẽ về Sài Gòn nghỉ tĩnh dưỡng để thuận tiện giao tiếp với bạn bè hơn. Ở Sài Gòn chúng tôi cũng có một biệt thự khác trên đường Công Lý.
Hạ Hạ nghiêm nghị trả lời:
– Dạ thưa Phu nhân, con có nghe anh Tuấn nói về ngôi biệt thự ở đường Công Lý. Nhưng con không nghe anh ấy nói gì về tuổi hưu của Phu nhân cùng với giáo sư Minh. Biệt thự Đỉnh Sương Mù trong tương lai cũng sẽ là Nhà Thờ Từ Đường Họ Nguyễn.
Phu nhân cười:
– Chuyện đó, chúng tôi chưa bàn bạc gì với Tuấn, nên Tuấn chưa biết nguyện vọng của chúng tôi nhưng nói cho cùng, khi cha mẹ đã qua đời, thì con cái sẽ quyết định mọi việc. Đó cũng là nguyên tắc của đời sống. Phải vậy không Hạ Hạ?
– Thưa Phu nhân! Những người con hiếu thảo, bao giờ cũng đi theo đúng hướng nguyện vọng của cha mẹ.
Bà mỉm cười, tự tin nhưng dẫu sao vấn đề hoàn cảnh gia đình và môn đăng hộ đối vẫn là tiền đề, làm bà ngập ngừng trong giây lát, bà nhìn Hạ Hạ nhỏ giọng bảo:
– Con gọi điện thoại, nói với Tuấn, ta cần gặp Tuấn lúc 11 giờ sáng nay và mời Tuấn ở lại cùng ăn cơm trưa với chúng tôi.
Hạ Hạ liếc nhanh đồng hồ tay và xin phép Phu nhân đi gọi điện thoại cho Tuấn.
Hạ Hạ rời phòng khách, đi thẳng ra phòng ăn. Nàng nói chuyện với vú già trong khoảnh khắc rồi trở về bàn cà phê.
Vừa đến nơi, Hạ Hạ đã trông thấy giáo sư Minh ngồi đó tự bao giờ.
Hạ Hạ dừng lại, định lui về phòng, để cho Phu nhân và giáo sư Minh tự do trò chuyện riêng với nhau.
Phu nhân thấy vậy, bèn gọi Hạ Hạ:
– Con vào đây, cùng uống trà với chúng tôi.
Hạ Hạ tiến đến, cung kính chào giáo sư Minh:
– Dạ, Hạ Hạ xin chào giáo sư!
Ông ngẩng đầu nhìn Hạ Hạ, rồi hỏi:
– Cô soạn gần xong đoạn ‘văn hóa tâm linh’ chưa?
Hạ Hạ cung kính:
– Dạ thưa giáo sư, tôi soạn gần xong rồi nhưng các hình thức khác biệt giữa Khổng giáo và Đạo giáo, và việc xuất hiện Phật giáo Đại thừa, khiến cho vũ trụ tôn giáo của từng dân tộc trở nên đầy đủ hơn!
Vấn đề này khá phức tạp, do đó tôi cần sự hướng dẫn, giáo huấn của Giáo sư!
Hạ Hạ vừa trả lời xong, Phu nhân đã ngắt lời:
– Thôi! Chuyện đó để anh và cô ấy, bàn luận riêng với nhau đi! Tôi chẳng hiểu gì về triết học, nên không góp ý được.
Bà nhìn Hạ Hạ rồi ân cần hỏi:
– Con có nói chuyện được với Tuấn không?
– Dạ thưa Phu Nhân, con đã nhờ vú già gọi cho anh Tuấn, và cho anh ấy biết Phu nhân muốn gặp anh ấy lúc 11 giờ sáng nay.
Bà mỉm cười, nhìn Hạ Hạ, niềm nở hỏi?
– Tuấn trả lời sao?
– Dạ, con nghe vú già bảo, anh Tuấn sẽ đến thăm Phu nhân sớm hơn giờ Phu nhân đã định.
Phu nhân hỏi lại nàng:
– Con không gọi trực tiếp cho Tuấn được sao? Mà phải nhờ đến vú già?
– Dạ thưa Phu nhân, con không dám làm bận rộn anh Tuấn, vì con biết anh ấy cần thời gian để quan sát những hiện tượng phản ứng hóa học.
Con chưa bao giờ tự ý gọi điện thoại cho anh ấy.
Hạ Hạ liếc nhanh về hướng giáo sư Minh như có ý phân trần.
Trong khi đó, cả Phu nhân và giáo sư Minh cùng gật đầu tỏ ý vui…

Vừa lúc đó, có tiếng xe của Tuấn dừng trước cổng, Tuấn hăm hở bước vào sân.
Cả ba người đều trông thấy Tuấn.
Phu nhân nhìn đồng hồ và lên tiếng trước:
– Sao Tuấn đến sớm thế?
Hạ Hạ đáp:
– Con nghe vú già nhắc anh Tuấn là Phu nhân cần gặp anh lúc 11 giờ … mà!
Vừa lúc đó, Tuấn cũng vừa mở cửa bước vào phòng khách.
Hạ Hạ đứng dậy, vui vẻ chào Tuấn:
– Anh khỏe không anh Tuấn?
Chàng không vội vàng trả lời Hạ Hạ mà cung kính chào Phu nhân:
– Mẹ mới về? Mẹ có khỏe không … mẹ?
Trong khi đó, Giáo sư Minh đưa tay cho Tuấn bắt tay minh, rồi chỉ chiếc ghế cạnh Phu nhân mời Tuấn:
– Con ngồi đây với mẹ.
Vừa lúc đó Hạ Hạ cũng vừa đứng dậy xin phép Phu nhân và giáo sư Minh để nàng trở về phòng.
Phu nhân biết ý, cũng gật đầu đồng tình.
Hạ Hạ vừa rời bàn, Tuấn vội hỏi:
– Hạ Hạ, em có khỏe không?
Nàng dừng lại, ngẩn mặt nhìn Tuấn, tươi cười, đáp:
– Dạ. Em cũng bình thường. Nói xong nàng bước vội về phòng riêng của mình.
(Hàn huyên những gì về Hạ Hạ? Và quyết định của Phu nhân ra sap? Mời Quý độc giả đọc tiếp…)

CHƯƠNG CHÍN
CHUYỆN TRÒ GIỮA PHU NHÂN-GIÁO SƯ MINH – VÀ TUẤN

Để cho Hạ Hạ đi thật xa, Phu nhân lên tiếng hỏi Tuấn, để thăm dò:
– Sao con đến sớm thế? Mẹ bảo Hạ Hạ gọi con đến gặp mẹ lúc 11 giờ kia mà!
Tuấn cầm tay mẹ, nâng niu.
– Thưa mẹ, vú già gọi con, chứ không phải Hạ Hạ. Bà bảo con, mẹ muốn con về gặp mẹ lúc 11 giờ sáng nay nhưng con biết mẹ đã có mặt ở đây, nên con vội về trình diện với mẹ đây!
Phu nhân nguýt yêu Tuấn, bà nói:
– Khéo nịnh nghen!
Bà nghiêm nghị hỏi Tuấn:
– Con nghĩ sao về Hạ Hạ?
Tuấn đáp:
– Con cũng chẳng dám nghĩ sao về Hạ Hạ, nhưng con muốn thưa với mẹ, con cũng đã lớn tuổi rồi. Mẹ cho con lập gia đình nghen mẹ.
Phu nhân hỏi Tuấn thêm một lần nữa:
– Mẹ muốn biết, con đã nghĩ gì về Hạ Hạ?
Tuấn đáp:
– Con chưa dám nghĩ gì về Hạ Hạ, vì còn phải chờ ý kiến của Mẹ.
Chàng hỏi mẹ tiếp:
– Còn mẹ đã nghĩ gì về Hạ Hạ?
– Ta chưa dám nghĩ gì hết nhưng vấn đề đáng quan ngại nhất là hoàn cảnh gia đình của Hạ Hạ.
Tuấn vội lên tiếng:
– Mẹ à! Con chỉ sợ mẹ không bằng lòng về nhân cách của cô ấy, chứ gia đình của Hạ Hạ, chỉ là phụ thuộc thôi mẹ!
Phu nhân nhỏ nhẹ nói:
– Không đơn giản tí nào đâu con ạ!
Hôn nhân nào cũng phải có lễ hỏi, đám cưới; rồi họ hàng, khách khứa hai bên. Chuyện cũng khá phức tạp đó!
Giáo sư Minh, nãy giờ vẫn im lặng. Ông nhìn vợ, nhã nhặn góp ý:
– Em cho tôi góp ý được không?
Phu nhân nhìn chồng, âu yếm nói:
– Nào! Ý kiến của anh ra sao?
Giáo sư Minh thong thả nhồi thuốc ‘half-and-half, vào tẩu pipe nhưng không bật lửa hút.
Ông nhìn vợ nói:
– Theo anh thấy, chẳng có gì là trở ngại. Thời buổi bây giờ là nhân cách.
Hạ Hạ, cô ấy đủ tư cách và nhân cách để làm vợ của Tuấn. Còn các thủ tục về nghi lễ, ta thực hiện cả lễ hỏi và lễ cưới tại hai Nhà Hàng khác biệt nhau. Sáng Lễ Hỏi chiều Cưới! Có sao đâu!
Ông tiếp:
– Thường thường khách mời, nếu có thắc mắc, họ chỉ hỏi:
– Cô Dâu, chú Rể đang làm việc ở đâu. Chứ chẳng ai đề cập đến, cha mẹ cô Dâu làm gì?
Phu nhân nhỏ nhẹ hỏi lại chồng:
– Anh nghĩ đơn giản quá, nhưng theo ý em, vấn đề thật khá phức tạp đó!
Giáo sư Minh, nhìn vợ, âu yếm hỏi:
– Ví dụ có những điều gì phức tạp, em thử đặt câu hỏi xem sao?
– Phu nhân đưa vấn đề:
– Nếu có người hỏi:
– Sao không làm đám hỏi ở nhà cô Dâu, mà lại phải làm đám hỏi tại Nhà Hàng?
– Em ạ! Đám hỏi, thường được cử hành theo nghi thức thủ tục.
Bên họ đàng trai và họ đàng gái chỉ mời một vài người khách, gọi là đại diện … tượng trưng thôi. Bên họ đàng trai, một nửa là bạn của em, còn lại một nửa là bạn của anh. Các bạn của chúng ta, chẳng có ai muốn biết hoàn cảnh gia đình của cô Dâu để làm gì đâu? Nhưng liệu có ai muốn hỏi kỹ hơn; mình cứ trả lời: – Nhà cô Dâu cũng gần đây nhưng không thuận tiện, do đó phải làm đám hỏi tại Nhà Hàng thôi.
Còn nếu có ai hỏi: – Mẹ cô Dâu đang làm gì thì mình đáp:
– Buôn bán nhỏ, thế là đủ, nhưng anh nghĩ bạn bè của chúng ta, toàn là những giáo sư Đại Học, họ rất từng trải việc đời, ít ai có thì giờ để tra hỏi những chuyện nhỏ nhặt đó đâu em!
Phu nhân chưa vừa lòng, gặn hỏi Tuấn:
– Con có biết mẹ của cô ấy đang bán xôi dạo trong các xóm lao động không?
– Thưa mẹ. con chưa biết điều này nhưng nếu mẹ của Hạ Hạ có bán xôi dạo cũng chẳng có quan hệ gì đến tình cảm của con.
Phu nhân nhăn mặt hỏi chồng:
– Còn anh! Anh nghĩ như thế nào, nếu bà sui gia của mình là người bán xôi dạo?
Giáo sư Minh ôn tồn:
– Em ạ! Anh cũng nghĩ như Tuấn. Hai vấn đề giữa hôn nhân và gia đình, trên thực tế, nó chẳng có gì liên quan đến nhau!
Chẳng một giây suy nghĩ, khuôn mặt Phu nhân lạnh lùng nhìn chồng rồi quay đi thật lẹ, sau đó bà gắt:
– Hai cha con ông lúc nào cũng đồng thuận với nhau trên mọi vấn đề thật đơn giản!
Bà hơi nhíu mày:
– Loan Loan, vũ nữ cũng chẳng sao! Hạ Hạ, với người mẹ bán xôi dạo cũng chẳng quan hệ gì! Người nào cũng được chứ chẳng sao! Cha con ông không thấy thẹn sao?
Bà trừng mắt, nhìn Tuấn hỏi:
– Ở đây, con không kiếm một cô nào khác được hay sao? Nào là con gái ông Thị Trưởng, đang dạy ở Bùi Thị Xuân! Con gái ông Trưởng Ty Bưu Điện sắp ra Nha sĩ hay Bác sĩ gì … gì …đó! Nếu được như thế, mẹ có vui hơn không?
Sau đó bà đứng dậy, mặt lạnh lùng nhìn chồng:
– Cha con ông muốn gì thì cứ làm. Riêng tôi, nhất định không tán thành.
Bà nhìn Tuấn nói:
– Thôi để mẹ yên. Mẹ về lại Sài Gòn đây.
Nói xong, bà về phòng, kéo va-ly ra thẳng xe. Trong khi đó cả giáo sư Minh và Tuấn đứng ngơ ngác nhìn bà.
Một chập lâu sau, Tuấn vội chạy theo mẹ, nhưng bà gạt tay Tuấn.
Phu nhân lên xe và lái ra khỏi biệt thự Đỉnh Sương Mù.

CHƯƠNG MƯỜI
TUẤN và HẠ HẠ

Một chập lâu sau, khi Phu nhân rời khỏi biệt thự, giáo sư Minh nhìn Tuấn thông cảm nhưng ông chẳng có một lời nào khuyên hay giải thích gì với Tuấn.
Ông biết quyết định của vợ thật vô lý nhưng ông hiểu không thể nào thay đổi được ý kiến của vợ.
Ông thất vọng trở về phòng riêng của mình.
Còn lại một mình Tuấn, chàng nhờ vú già đến phòng Hạ Hạ, mời nàng ra phòng khách bàn chuyện với Tuấn.
Hạ Hạ ra đến nơi, không thấy Phu nhân và giáo sư Minh, trong khi đó, khuôn mặt của Tuấn buồn tênh như một ngày không nắng.
Hạ Hạ hỏi Tuấn:
– Lại chuyện gia đình em. Lại chuyện môn đăng hộ đối phải không anh?
Tuấn ngồi thừ người ra và không biết trả lời với Hạ Hạ ra sao, để vừa khỏi làm tổn thương Hạ Hạ lại vừa không công kích thái quá về quyết định của mẹ.
Hạ Hạ hỏi Tuấn:
– Giáo sư có quyết định gì không?
Tuấn hăm hở, đáp:
– Ba luôn luôn đồng tình với chúng mình.
Hạ Hạ hỏi tiếp:
– Còn quyết định của anh ra sao?
Tuấn không ngập ngừng:
– Anh không thể nào xa em được.
Hạ Hạ hỏi Tuấn:
– Anh có muôn biết, quyết định của em không?
Tuấn nhìn Hạ Hạ trìu mến, ngập ngừng nói:
– Anh muốn biết ý kiến của em lắm chứ!
Hạ Hạ nghiêm nghị trả lời:
– Tình yêu và hôn nhân phải dựa trên nền tảng kính trọng nhau. Mà đã không có được sự dung hòa thì hạnh phúc lứa đôi cũng sẽ bị tổn thương.
Anh nên nghe lời mẹ, để khỏi bị tội bất hiếu.
Hạ Hạ nhìn Tuấn, giải thích thêm:
– Em cũng không thể để cho bất cứ ai làm tổn thương đến mẹ em. Do đó, chúng mình phải xa nhau thôi!
Tuấn kéo ghế xích lại gần Hạ Hạ dỗ dành:
– Anh không thể nào xa em được. Em có biết điều đó không?
Hạ Hạ đáp:
– Em còn buồn và thất vọng ngàn lần hơn anh.
Em không trách mẹ anh tí nào nhưng dẫu sao vẫn là quan niệm đặc thù của xã hội ta từ trước đến giờ. Mẹ anh có lý của bà nhưng em cũng phải có quyết định sáng suốt của em. Chúng ta cũng không thể đong đưa trên một sợi giây không đủ sức kéo trọng lượng quá nặng của hai người trong một thời gian lâu dài. Sợi giây sẽ đứt và cũng không có sợi giây nào còn có thể cột chặt chúng ta vào nhau được nữa đâu anh ạ!
Tốt hơn hết, anh và em sẽ phải xa nhau để mình còn có nhau trong tâm tưởng của chúng ta!
Thôi anh về đi! Bắt đầu tuần sau, em sẽ xin phép giáo sư Minh rời khỏi ngôi biệt thự này.
Tạm biệt anh!

Nói xong, Hạ Hạ đi về phòng, để lại Tuấn ngồi ngỡ ngàng một mình.
Tuấn hiểu rõ Hạ Hạ cũng không bao giờ nhân nhượng với mẹ chàng trong trường hợp này và mẹ chàng bao giờ cũng quyết định dứt khoát, khó lòng lay chuyển nổi được bà.
Tuấn lững thững lái xe ra về, quên cả lời từ giã vú già.

CHƯƠNG MƯỜI MỘT
NỖI BUỒN HẠ HẠ

Hạ Hạ đau khổ biết dường nào. Niềm hy vọng ấp ủ vừa chớn lên nay đã lịm tắt như một đốm lửa rơi vào biển cả mênh mông.
Bên ngoài từng hạt sương đang rơi. Có ai hiểu được trong nàng nỗi niềm bâng khuâng đau xót khó tả. Nội tâm lẫn tiềm thức đang dằn vặt réo gọi niềm đau xót cho thân phận của một người con gái nghèo!
Nàng thương mẹ vô cùng.
Cha mất sớm, mẹ nuôi Hạ Hạ trong cơn nghèo túng. ..
Những giọt nước mắt của nàng trào ra quanh mi.
Nàng nhớ lại, sáng hôm đi thi lấy bằng Cử Nhân, mẹ nhét vào tay nàng 50 đồng và âu yếm, nói với nàng:
– Con cầm lấy, mua cái gì để ăn. Ráng thi cho đậu, mẹ mừng nghen con.
Nói xong, bà bưng thúng xôi rảo bước ra khỏi con hẻm nhỏ với tiếng rao: ‘Xôi đậu xanh đây!’.
Hạ Hạ cầm tiền của mẹ cho trong tay, Hạ Hạ biết cái khổ của mẹ nàng, suốt đời mẹ chỉ là một người đàn bà bán xôi dạo thì làm sao có nhiều tiền cho con được.
“Năm mười đòng con cầm lấy, mua cái gì đó để ăn. Câu nói bình thường của mẹ nhưng đó là cả những lời khuyến khích của mẹ cũng là một số tiền lớn nhất của mẹ cho nàng.
Sáng đó, Hạ Hạ mới ý thức rõ ràng, muốn tránh cho gia đình mình cảnh nghèo, chỉ còn có cách phải vươn lên bằng con đường học vấn. Chỉ còn có cách – phải thi đậu – mới xóa được, cảnh nghèo khổ của gia đình nàng.
Mẹ đi rồi, nàng cũng vội vàng bước ra khỏi con hẻm lầy lội của đêm qua. sau cơn mưa nặng hạt, để đến trường thi tốt nghiệp.
Vừa đi nàng vừa suy nghĩ, nhiều năm qua, mẹ đã bưng thúng xôi đi bán dạo để nuôi sống hai mẹ con nàng.
Chiều hôm đó, nàng trở về, trả lại cho mẹ 50 đồng vì nàng biết, đó cũng không phải là một món tiền nhỏ đối với mẹ, kiếm được vất vả cả ngày trời.
Hồi đó, 50 đồng của mẹ, mua được năm gói xôi, lót dạ dân nghèo…
Hạ Hạ đang nghĩ triền miên về thân phận, về sự nghiệp và nhất là mối tình của nàng và Tuấn. Bên ngoài có tiếng gõ cửa nhè nhẹ và giọng vú già lên tiếng:
– Thưa cô giắo. Ông chủ đang đợi cô tại phòng khách.
Hạ Hạ bước ra, khuôn mặt nàng cố giữ rất tự nhiên, nàng chào giáo sư Minh như thường lệ.
– Thưa Giáo sư…
Nàng còn đang ngập ngừng, Giáo sư Minh đã ân cần chỉ cái ghế đối diện với ông và chờ cho Hạ Hạ ngồi xuống, ông nghiêm nghị hỏi Hạ Hạ:
– Tuấn về rồi sao?
-Dạ.
Ông ngập ngừng hỏi:
– Hai người có bàn luận gì với nhau không?
– Dạ thưa không.
– Không giận nhau, sao Tuấn bỏ ra về?
– Con cũng chẳng rõ, nhưng con thấy anh Tuấn buồn và thất vọng lắm!
Chừng một chập lâu sau, Hạ Hạ lên tiếng:
– Thưa giáo sư. Con muốn thưa chuyện với Giáo sư.
Ông trầm ngâm một lúc. Giáo sư Minh lấy thuốc bỏ vào tẩu, ông hỏi:
– Chuyện gì cứ nói đi. Nhưng theo ta nghĩ vấn đề cũng chẳng có gì phức tạp. Hạ Hạ chỉ cần kiên nhẫn thêm một chút.
Hạ Hạ cúi đầu, không nhìn Giáo sư Minh nhưng nàng cương quyết nói:
– Thưa giáo sư, cho phép con ra ở một chỗ khác, để thuận tiện hơn!
Ông nhìn Hạ Hạ thật ngạc nhiên hỏi:
– Sao vậy? Vấn đề chưa đến nỗi phải giải quyết như thế!
Hạ Hạ nói như phân trần:
– Thưa Giáo ư thông cảm. Con phải cư ngụ một nơi khác vì hạnh phúc và sự nghiệp của anh Tuấn.
Ông trầm ngâm nói:
– Quyết định của Hạ Hạ như vậy có vội vã lắm không?
Hạ Hạ nhìn giáo sư Minh nhã nhặn đáp:
– Con nghĩ ý định của con không vội vàng lắm đâu nhưng dù sao cũng để cho anh Tuấn khỏi mang tội bất hiếu với mẹ.
Giáo sư Minh bước ra hành lang, ông nhả khói thuốc chờn vờn lơ lửng nhạt nhòa gió bay.
Bước vào bàn, ngồi xuống. Ông nói:
– Phạm trù của tình yêu và lòng tôn kính phụ mẫu là hai lãnh vực khác nhau. Tiền đề của tình yêu đơn thuần là hạnh phúc lứa đôi, mà con tim là sứ giả định đoạt. Còn lòng hiếu thảo thể hiện qua lý trí.
Ta cũng không muốn tranh luận với con về hai lãnh vực này, mà ta để cho con định đoạt nhưng dẫu sao từ những ngày đầu, ta đã muốn con cư ngụ tại Đỉnh Sương Mù, để đọc sách cho ta nghe và giúp ta ghi chép lại những mâu thuẫn trong triết học.
Nay con định bỏ ta ra đi, lấy ai thay thế để giúp ta hoàn tất những giáo trình trong tương lai?
– Thưa Giáo sư, con cũng biết thế, nhưng con không thể nào lưu lại đây một ngày nào nữa. Tuy nhiên con vẫn giữ lời hứa với Giáo sư, soạn thảo một chương trình triết học Đông Phương.
Hạ Hạ tiếp:
– Con sẽ cư ngụ nơi khác nhưng vẫn đến đây để làm bổn phận của con như từ trước đến giờ.
Giáo sư Minh giải thích:
– Tiền đề vào bật nhất không phải là giáo trình Triết Học mà là tình yêu của Hạ Hạ và Tuấn.
Theo ta nghĩ, chỉ một mình con mới có thể mang lại hạnh phúc cho Tuấn và lẽ dĩ nhiên đó cũng là hạnh phúc đầu đời của con.
Hạ Hạ đáp:
– Thật sự con rất cám ơn giáo sư đã nâng đỡ con. Công ơn đó con không thể nào quên.
Con cũng thành thật cám ơn anh Tuấn đã dành cho con một tình yêu đầu đời rất trong sáng nhưng con cũng không thể nào sống trong hạnh phúc của tình yêu nhưng lại bị những dằn vặt trong lòng thì quả thật là đáng sợ.
Giáo sư Minh giải thích thêm:
– Việc đi hay ở tùy thuộc vào Hạ Hạ nhưng theo ta nghĩ chúng ta thừa biết, tình yêu xuất phát từ con tim nhưng không có con tim nào giống con tim nào. Do đó, những uẩn khúc quanh con, còn tùy thuộc phán đoán của lý trí. Vậy ta để cho Hạ Hạ tự ý định đoạt.
Hạ hạ nhìn ông phân trần tiếp:
– Thưa Giáo sư, nhưng những hệ lụy về mâu thuẫn rất phức tạp khó có thể xóa nhòa trong ký ức được.
Nghe Hạ Hạ nói vậy, ông buồn rầu trở về phòng, gọi điện thoại cho vợ.

CHƯƠNG MƯỜI HAI
MUA NHÀ

Một tuần lễ sau, Hạ Hạ mướn được một căn nhà nhỏ, gần trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân.
Tiền lương nàng dành dụm được gần một năm nay cũng khá nhiều.
Hạ Hạ dự định sẽ bàn với mẹ, bán ngôi nhà nhỏ trên con hẻm Bùi Viện, cộng với tiền lương của nàng cố gắng làm việc thêm một năm nữa, cũng có thể đủ tiền để mua được một căn nhà nhỏ ở Đà Lạt.
Hạ Hạ sẽ đưa mẹ nàng về sinh sống luôn tại đây, để mẹ khỏi phải thức khuya dậy sớm, rảo bước trên các xóm lao động nghèo, rao bán từng gói xôi đậu xanh như từ trước đến nay.
Sáng Chủ nhật hôm đó, Hạ Hạ từ giã Giáo sư Minh và vú già để ra đi. Giáo sư Minh hỏi Hạ Hạ:
– Con tính đi thật sao? Việc gì mà Hạ Hạ phải vội vàng thế?
Sao không ở lại đây ít lâu nữa rồi hãy tính?
Hạ Hạ lễ phép đáp:
– Dạ, thưa Giáo sư! Trước sau gì, con cũng phải ra đi. Nên con quyết định, phải đi càng sớm càng tốt!
Giáo sư Minh nhấp giọng bằng nước trà, ân cần nói:
– Nhưng theo ta nghĩ con nên cho Tuấn biết quyết định này của con.
Ông quay sang vú già, bảo:
– Bà Hai, gọi điện thoại cho Tuấn biết đi!
Vú già vội vàng quay bước, trở lại phòng ăn, gọi điện thoại cho Tuấn, trong khi đó, giáo sư Minh nhìn Hạ Hạ hồi lâu, ông đang nghĩ về quyết định của vợ, vẫn cứ làm cho ông bức rứt suốt cả tuần lễ nay.
Ông nói với Hạ Hạ:
– Con nên cho Tuấn biết quyết định của con!
Hạ Hạ cung kính đáp:
– Dạ thưa giáo sư, tuy con ra đi nhưng chiều chiều con vẫn có mặt ở đây, để đọc sách cho giáo sư và ghi chép lại những điều giáo sư căn dặn như thông lệ từ trước đến giờ mà.
Khi gặp anh Tuấn chiều nay, con sẽ nói với anh ấy về chuyện này để anh khỏi bị lúng lúng vì đó là quyết định của một mình con.
Vừa lúc đó, Tuấn cũng vừa đến.
Chàng vội vã bước nhanh vào nhà.
Thấy Hạ Hạ đang chuẩn bị ra đi. Tuấn ngỡ ngàng nói với Hạ Hạ:
– Sao em quyết định vội vàng thế.
Chuyện gì cũng cần phải có thời gian để giải quyết. Mẹ cũng chưa có ý kiến gì về việc em đi hay ở tại ngôi biệt thự này mà. Ba anh đã chấp thuận để em ở lại tại đây, chứ đâu cần phải có quyết định của mẹ anh!
Hạ Hạ hiền hòa đáp:
– Em biết vậy! Nhưng dẫu sao, chúng ta cũng phải nên tôn trọng, nghe theo lời giáo huấn của phu nhân thì tốt hơn.
Em đã nghĩ nhiều rồi! Quyết định của em ra đi, sẽ rất thuận tiện cho giáo sư và cho cả hai đứa chúng mình nữa!
Không khí trong ngôi biệt thự Đỉnh Sương Mù tăng thêm lên sự ngột ngạt căng thẳng trên khuôn mặt của mọi người, khi Hạ Hạ quyết định phải ra đi.
Giáo sư Minh trầm ngâm hồi lâu. Ông nhìn Tuấn đang đứng ngơ ngác, không ngờ chuyện lại kết thúc một cách bất ngờ như vậy! Một chập lâu sau, ông bình tĩnh, nhỏ nhẹ nói:
– Thôi cũng được. Ta để cho Hạ Hạ và Tuấn suy nghĩ và cả hai cùng quyết định nhưng trước khi Hạ Hạ cương quyết ra đi ta mời hai con cùng dùng cơm trưa hôm nay với ta.
Nói xong ông quay sang vú già bảo:
– Bà Hai sửa soạn cho một bữa cơm trưa thật đặc biệt hơn mọi ngày.
Nói xong, ông lặng thinh bỏ vào phòng riêng của mình, trong khi đó vú già hối hả gọi chị bếp chuẩn bị bữa cơm trưa theo lời dặn của giáo sư Minh.
Đó cũng là lần đầu tiên, không gian nặng trĩu. Một khoảnh khắc trôi lặng lẽ vô hồn nên cả hai – Hạ Hạ và Tuấn – chẳng biết nói gì đây! Như cả hai người đang ru từng giọt sầu da diết cho nhau.
Tuấn nghèn nghẹn một chút men cay, đã mấy lần tỉnh, mấy lần say mà ân tình đã vội mgậm ngùi chia tay, mà tình yêu cũng chứa chan trong lòng.
Tuấn tha thiết van xin:
– Em bỏ anh ra đi sao?
Câu hỏi điểm đúng tâm trạng Hạ Hạ, khiến nàng ấp a ấp úng:
– Đâu có! Em chỉ dời chỗ ở thôi! Chiều nào em lại chẳng phải đến đây!
Tuấn ân cần:
– “Đâu có!”… nhưng tại sao lại phải ra đi?
Tuấn hỏi y như chất vấn làm Hạ Hạ đã lúng túng lại càng lúng túng thêm.
Hạ Hạ suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:
– Em phải rời khỏi nơi đây để tránh sự muộn phiền cho phu nhân!
Một chập lâu sau, hình như Tuấn đã nghĩ ra một đáp số đơn giản, chàng hăm hở đáp:
– Hay là em chuyển về biệt thự của anh trong thời gian này?
Hạ Hạ cương quyết:
– Đề nghị của anh càng không thích hợp, sẽ làm cho phu nhân giận thêm thôi!
Hạ Hạ nhìn Tuấn giận dỗi:
– Hơn thế nữa, em lại càng không thích về đó, dẫu sao em vẫn là người đến sau, Loan Loan trong biệt thự của anh. Điều đó, sẽ cho em cái ám ảnh thua thiệt… Sao anh không nghĩ đến điều đó?
Tuấn thở dài, bóp trán suy nghĩ về những điều mà chàng đã đề nghị với nàng, hình như chẳng mảy may làm thay đổi được quyết định của Hạ Hạ.
Một chập lâu sau, Tuấn thở dài hỏi Hạ Hạ:
– Hay em không còn yêu anh nữa?
À! hay là em có nhiều điều giấu anh lắm đó!
Hạ hạ nhìn Tuấn, hậm hực nói:
– Anh chỉ giỏi chận đầu, chận đuôi thôi.
(Rồi chuyện tinh sẽ ra sao ngày sau. Xin mời Quý độc giả đọc tiếp…

CHƯƠNG MƯỜI BA
Vĩnh biệt Tuấn

Tôi vẫn thường ngồi bên trong khung cửa sổ, nhìn xuống ngọn đồi Hill Top. Xa xa là thành phố Tacoma, trải dọc dài theo con đường Yakima là hai hàng hoa Anh Đào đang nở rộ, khoe sắc thắm. Các loại hoa Anh Đào đủ sắc màu… trắng, tím, hồng… cũng đang mọc rải rác khắp nơi trên các ngọn đồi quanh vùng Hill Top, tạo thành một vừng hồng lung linh dưới ánh mặt trời chói chang.
Đặc biệt sáng sớm hôm nay, tôi có hẹn với hai sinh viên Triết trước 1975, hai vợ chồng đã hẹn đến đây thăm tôi.
Cặp vợ chồng này sau khi biết tin tôi đã đến định cư tại thành phố này, nên cả hai quyết định đến thăm tôi.
Tôi nghe nói trong điện thoại, cô vợ là sinh viên Triết năm thứ Nhất,còn anh chồng là cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Quốc Gia Đà Lạt, cũng bị đi tù cải tạo, nay được định cư tại Mỹ theo chương trình H.O.
Nghe vậy, tôi cũng muốn gặp họ để biết Đà Lạt nay ra sao. Hơn thế nữa, may ra người chồng, có thể biết về cái chết của anh Tuấn trong trại cải tạo…
Sáng Chủ Nhật hôm đó, họ lái xe từ Seattle đến Tacoma, và tìm đến địa chỉ nơi tôi đang cư ngụ để thăm tôi.
Đã bốn mươi hai năm, sống trên xứ người, khi hoa Anh Đào sắp nở, nhất là khi bầu trời se se lạnh, làm tôi nhớ đến Đà Lạt, nhớ Tuấn, nhớ Đỉnh Sương Mù quay quắt.
Ngồi đây đợi, tôi vẫn mong sớm gặp họ, để biết về tin tức của những người không may ở lại, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Lần đầu tiên họ đến thăm tôi, họ cũng để lại trong lòng tôi một nỗi buồn ray rức, mà tôi không thể nào quên được.
Bốn Mươi hai năm sau, mỗi lần tháng Tư Đen trở về, với niềm đau bị khơi lại, tôi còn bị hình ảnh của Tuấn ngày nào, hiện ra cùng một lúc, làm vết thương của tôi nhức nhối thêm.
Hôm đó, tôi cũng đã chuẩn bị một hũ mứt mận Phi-Nôm và một bình trà Blao đãi khách.
Sau một hồi trò chuyện, tôi hỏi người chồng:
– Anh bị tù ở trại nào?
– Thưa cô, em bị tù tại trại Suối Máu.
Tôi hơi thất vọng, vì anh không bị tập trung cùng một trại với anh Tuấn, nhưng tôi cũng hỏi thăm dò:
– Vậy anh có biết trại tù A.30 ở đâu không?
Người chồng trả lời ngay:
– Em cũng có một vài người bạn bị tập trung tại đó!
Em biết trại A.30 ở Phú Yên, nhưng tình thật em không biết, địa điểm của trại tù ở đâu?

Tôi không nhớ, tại sao tôi lại có tấm bản đồ Việt Nam, hình cong như chữ S và tôi cũng muốn biết Đà Lạt cách trại A.30 bao xa?
Tôi lấy tấm bản đồ và trải dài trên bàn. Tôi nhìn chàng cựu tù nhân chính trị, hỏi:
– Đà Lạt cách Trại Tù A.3o bao nhiêu kí-lô-mét?
Tôi ngước nhìn người vợ, tôi thấy cô ấy ngồi im, chờ chồng giải đáp.
Anh chàng cựu tù nhân chính trị, để ngón tay trỏ lên bản đò. Anh chỉ vào thành phố Đà Lạt, rồi kéo ngón tay dọc xuống Phan Rang, rồi kéo dài xuống Nha Trang và đưa ngón tay dừng lại tại Tuy Hòa, Phú Yên. Anh ngước mắt nhìn tôi::
– Thưa cô, em không rõ Trại A.30 nằm về hướng nào nhưng nghe các bạn kể, trại đó, xa Tuy Hòa chừng 20 cây số, nơi đó có nhiều rừng rú …
Anh nhìn vào bản đồ và định hướng.
– Thưa cô, có thể là chỗ này.
Anh tránh cặp mắt tôi. Anh cúi xuống tấm bản đồ, tìm vị trí Đà Lạt – Phú Yên. Anh thong thả nói:
– Khoảng chừng 350 kí-lô-mét đó cô.
Tôi nghe rõ từng tiếng trả lời.
Tôi chỉ vào tọa độ của Trại Tù A.30.
“Tuấn, anh ấy đã chết tưc tưởi tại đây.
Nói xong, tôi gấp tấm bản đồ lại, cất vào ngăn kéo.
Tôi nghe lòng ngực khó thở và dường như cuống phổi tôi bị nghẽn vì có một vật gì đang nghẽn trong cuống phổi mình.
Mắt tôi nhòa lệ.
Tôi lấy tấm hình của Tuấn mặc veston. Anh ấy còn rất trẻ, có khuôn mặt khôi ngô và đôi mắt sáng, trông giống giáo sư Minh, cha chàng.
Khi tôi may mắn trốn thoát bằng con tàu cuối cùng rời khỏi Sài Gòn; tôi mới biết Tuấn bị tập trung cải tạo, thế rồi anh ấy đi tù, và rồi anh ấy chết. Tôi xa Tuấn rất tình cờ và anh ấy chết cũng thật bất ngờ.
Tôi ngồi im như một tượng đá, trí óc như rong rêu, xám xịt. Tôi không biết phải nói gì.
Tình yêu của tôi và thân xác Tuấn, đều bị hệ lụy vì cộng sản Việt Nam!
Tôi đang chết trong lòng, bỗng có tiếng hét nghẹn ngào của chàng cựu sinh viên sĩ quan Đà Lạt:
– Cô ơi! Thầy Tuấn của con đó!
Họ ra về với lòng nặng trĩu và riêng tôi một trái tim ngậm ngùi và đôi môi câm nín…
Duy Xuyên
Tacoma
Viết xong ngày 29 tháng 4 năm 2017

CHÌƠNG MƯỜI BỐN
NHỚ Mẹ

Hai vợ chồng người học trò cũ ra về.
Còn lại một mình, tôi ngồi cô đơn trong một căn nhà nhỏ, hiu quạnh. Nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn tôi thật rã rời.
Nhớ lại những năm tháng xa xưa, làm tôi quặn thắt trong lòng.
Sau khi rời biệt thự Đỉnh Sương Mù, mẹ tôi bán luôn căn nhà nhỏ ở trong hẻm Bùi Viện. Tuy là căn nhà thật nhỏ nhưng bán cũng có giá vì căn nhà tọa lạc ngay giữa lòng thủ đô Sài Gòn, nhất là gần trường Trung Học Tư Thục Hưng Đạo, nên được một vị giáo sư đang giảng dạy tại trường này mua ngay, để tiện việc di chuyển đi làm hàng ngày.
Mẹ con tôi mua được một căn nhà trên đường Phan Đình Phùng Đà Lạt để cư ngụ.
Mẹ không còn vất vả, tảo tần, rao bán từng gói xôi nuôi con.
Hàng ngày mẹ lo cơm nước, giặt giũ quần áo.
Tuy vậy, tôi vẫn thấy Mẹ bận rộn suốt ngày.

Thường thường mỗi khi ngày lễ Mother’s Day hay lễ Vu Lan tràn về, Mùa Nhớ Thương Mẹ sắp đến, là mỗi lần làm cho con buồn bã, nghĩ vơ nghĩ vẩn, lo sợ viễn vông, bởi những ám ảnh ưu phiền, ngày con mất Mẹ trong quá khứ, nó vẫn còn lẩn tha lẩn thẩn đâu đây, để đày đọa tâm tư con lịm chết.
Con đã mất Mẹ trong những ngày gần đến Lễ Vu Lan, của một năm xưa, rất xa mà lúc nào con cũng tưởng như rất gần. Thật gần! Mới đó mà con đã xa Mẹ lâu lắm rồi!
Nhớ lại những ngày xa xưa, gần ngày Lễ Vu Lan, thành phố Tacoma, trên đỉnh đồi quạnh hiu, vẫn có những cơn mưa ngâu bất chợt kéo về, cũng như trong tâm hồn con chợt có những nỗi buồn bất thường.
Đêm đêm, xuyên qua kẽ hở của tâm hồn, con tìm đôi mắt Mẹ trong tĩnh lặng, nhắm mắt lại để con được giữ nguyên vẹn hình ảnh Mẹ khỏi xóa nhòa trong trí nhớ, và đêm nay, trong giấc ngủ chờn vờn, hồn con chết lịm trong cơn mê mất Mẹ!
Con không thể nào ngủ được trong đêm nay, dường như có cái gì đó bất ổn trong lòng con. Con cố mím chặt môi, nghe mằn mặn ở đầu lưỡi, nước mắt con đang lưng tròng, chảy dài trên gò má gầy vì tháng năm ưu phiền, nhớ thương Mẹ già trong vô vọng, thương nhớ Mẹ triền miên.
Khi Mẹ còn, con vẫn thường ngồi trước tách cà phê pha thật đậm, nhâm nhi từng giọt đắng trên đầu luỡi, thả hồn trong điệu kinh nguyện cầu của Mẹ. Tiếng Mẹ trước bàn thờ gia tiên đều đều, dạt dào lời nguyện cầu của Mẹ … “Nam Mô A Di Đà Phật!” Lời nguyện cầu ngàn đời bất diệt, mà âm thanh như chìm xuống vẫn còn lắng sâu trong âm ỷ, đã lâu lắm rồi mà nay vẫn còn lảng vảng đâu đây.
Nỗi buồn mỗi khi gần đến Ngày Lễ Hội Của Mẹ là nỗi buồn len lén vào lòng. Càng nhớ về Người Mẹ thân yêu của mình, con càng nhớ thương những lần Lễ Hội trước.
Vu Lan nào Mẹ cũng cùng đi với con về chùa cúng Phật, nhất là chùa nào mà nơi đó còn có thiện nam tín nữ, gia đình Phật Tử thân thiết với Mẹ. Nhớ những Lễ Vu Lan xa xưa, con quỳ bên Mẹ, châm trà thêm vào tách khi Mẹ khàn giọng. Con nói nhỏ bên tai Mẹ, từng vị Đại Đức của chùa Linh Sơn, từng Thượng Tọa đã dạy con giáo lý Phật Pháp. Mẹ tươi cuời.

Nỗi buồn còn chất ngất khi con nhớ tới các sư sãi còn kẹt lại quê nhà.
Mỗi ngày xa quê hương, mỗi khi Hè về, Vu Lan đến là mỗi phút giây ngơ ngác, muộn phiền tiếp nối với những con mê kéo dài.

Sao ở cái xứ sở quạnh hiu, quanh năm tuyết phủ giá băng này, con không có có Mẹ, trong lúc Vu Lan về! Lễ Hội đến! Một thoáng giây tiếc thương ngậm ngùi. Di ảnh của Mẹ, lặng lẽ trên bàn thờ. Hình hài của Cha, không kịp mang theo trong chuyến hành trình đi xa, vội vàng như bỏ quê hương trốn chạy.
Nhìn lại bệ thờ tổ tiên, nụ cười hiền hòa, bao dung của Mẹ, ánh mắt nhân từ, phúc hậu, rực sáng của Mẹ, mong đợi con đem niềm vui trở về.
Mẹ! Một vùng kỷ niệm bỗng nhiên lũ lựợt tràn về trong tươi mát nhưng cũng không khỏi vấn vương một chút ngậm ngùi, nghẹn ngào trong tức tưởi vì niềm vui phiêu bạt chưa trọn mà nỗi buồn man mác xâm chiếm tâm hồn con với những đêm dài thao thức, khó ngủ, gợi cho con nhớ đến Mẹ già, mắt trũng, thân gầy, tóc bạc phơ, đang đứng tựa cửa chờ đàn con dại đi hành hương ở các chùa xa chưa về.
Mẹ ơi! Nếu giờ này con còn Mẹ, con không bao giờ để cho Mẹ phải nghĩ ngợi lấy tiền đâu để trả cho hết nợ căn nhà mà con vừa mua.
Khi Mẹ còn sống, chính đời sống nghiệt ngã đã làm khổ Mẹ. Mẹ lao đao, lận đận, mải miết suốt ngày, làm việc khổ cực, để kiếm tiền nuôi đứa con dại.
Mẹ ơi! Con nhớ Mẹ! Con cũng biết con sẽ mãi mãi không còn đuợc ở bên cạnh Mẹ nữa. Dường như Mẹ đã không có được một ngày vui nào! Hoặc Mẹ có vui nhưng niềm vui của Mẹ không trọn vẹn. Mẹ làm việc vất vả suốt ngày, Mẹ lau bàn thờ ông bà, rồi Mẹ lại nấu cơm, rửa chén bát, chùi nền nhà cho bóng loáng thêm, Mẹ gom quần áo mà con của Mẹ, vứt bừa bãi trong các hốc kẹt. Mẹ giặt sạch từng vết dơ dính trên tay áo. Mẹ kết lại từng hột nút áo…
Công việc của Mẹ không phải chỉ chừng ấy thôi. Có lúc Mẹ tưới mấy chậu hoa hồng … nên lúc nào con cũng thấy Mẹ lăng xăng, bận rộn suốt ngày, mà khi Mẹ nằm xuống, yên nghỉ, thì con lại không đuợc tha hồ mà quỳ lạy bên Mẹ.
Ngàn đời con vẫn còn ân hận.
Mẹ tha lỗi tội bất hiếu của con, nghen Mẹ!
“Cúi lạy Mẹ rộng đuờng tha thứ
Phận làm con chưa trả nợ biển Đông”

Bỗng nhiên, tôi chợt nhớ ra, đêm nay, ngày 12 tháng 5 năm 2017. Chỉ còn hai ngày nữa là đến Lễ MOTHER’S DAY. Ngày của Mẹ lại bắt đầu. Giá như bây giờ con còn Mẹ, để Mẹ con mình lau sạch lại bàn thờ, mua sắm lễ vật về cúng Phật, rồi con sẽ tặng quà cho Mẹ, vui biết chừng nào hả Mẹ? Con sẽ giới thiệu cho Mẹ những bạn bè cũ của con. À Mẹ ơi! Con sẽ dẫn Mẹ đến gặp Ni Cô Lạc, để Mẹ xem, Ni Cô cũng vẫn còn trẻ, khoẻ mạnh như thuở nào đó Mẹ ạ!
Mẹ! Con tim réo gọi. Lòng con sao rộn ràng quá!
Con muốn viết lên trang giấy này về Ngày Lễ Mẹ ! Về các Thầy, các Thượng Tọa, nguời quen kẻ lạ cho Mẹ nghe!

Tìm mãi cho mình nỗi nhớ thương. Muốn ngấu nghiến mà chữ nghĩa lại mù mịt. Lặng thinh. Câm nín. Nạo óc mãi không tìm đuợc hồn văn. Ý tưởng cứ nối vòng chìm nghỉm trong đáy ly cà phê pha vội. Nghe cô đơn len lén trở về, rã rời. Nỗi nhớ Mẹ buồn đến vỡ con tim!
Chấp cánh cho hồn bay theo từng dòng dĩ vãng. Chập chờn. Quấn quít. Gần gủi và nhớ thương Mẹ vô vàn. Sao hồn con bỗng nhiên buồn tênh như một ngày vừa mới mất Mẹ!

Mẹ
Có những đêm con chập chờn nhớ Mẹ
Dường như Mẹ về, cúi xuống hôn con
Mẹ mỉm cười khi con còn bỡ ngỡ
Có lẽ nào? Hồn Mẹ đó hay sao?

Riêng phần tôi, sáng nào cũng đến Viện Đại Học, theo sự hướng dẫn của Giáo Sư Minh, nghiên cứu các chủ thuyết về triết học Đông Phương.
Mỗi buổi chiều, sau khi Giáo sư Minh, hết giờ giảng bài cho sinh viên tại lớp, tôi cũng được phép theo xe của giáo sư, về lại Đỉnh Sương Mù, đọc sách cho giáo sư Minh nghe và ghi chép lại những điều ông căn đặn.
Lẽ dĩ nhiên, Tuấn cũng thường xuyên có mặt tại đây trước 5 giờ chiều, mỗi ngày.
Thỉnh thoảng Giáo sư Minh cũng mời tôi ở lại dùng cơm chiều.
Tôi biết ông luôn tạo điều kiện thuận tiện để Tuấn và tôi gặp nhau.

Theo ý ông, thời gian cũng sẽ làm thay đổi quan niệm về giàu nghèo của Phu nhân, vợ ông.

Tuấn và tôi vẫn giữ được mối giây tình cảm thật trong sáng với nhau, để mong mẹ anh, thay đổi thái độ về ‘môn đăng hộ đối’ của bà.
Tuấn cũng qúy trọng mẹ tôi. Anh ấy chưa bao giờ có một cử chỉ nào coi thường mẹ tôi.

Ngay những ngày đầu, anh gặp mẹ tôi tại Đà Lạt, anh đã xưng hô với mẹ tôi như một người con rể trong gia đình.
Mẹ tôi cũng rất thích tính tình của anh ấy. Bà cũng muốn chúng tôi thành hôn với nhau nhưng chúng tôi tuyệt đối không cho mẹ tôi biết về sự chống đối của mẹ anh, để mẹ tôi khỏi bị mặc cảm giàu nghèo.

Nghiệt ngã cho gia đình tôi và những bất hạnh cho dân lành, vì Miền Nam đổ sụp sau 30 tháng 4 Đen năm 1975.

Nhớ lại hồi đó vào khoảng đầu tháng 4/75, tôi được Cha Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt cử về Đại Học Văn Khoa Sài Gòn để tham dự một chương trình trao đổi về học thuyết giữa các giáo sư Việt Nam và Ấn Độ về Triết Học Phật Giáo của môn phái Bà-La-Môn thuộc Ấn Độ Giáo.
Lẽ dĩ nhiên, tôi rất mừng vì mình có dịp hiểu biết thêm những điều cần thiết trong nghề nghiệp của tôi, nhất là trong khi tôi đang giúp Giáo sư Minh soạn thảo một giáo trình có liên quan đến triết học Đông Phương.

Hồi đo, chẳng có ai nghĩ là Miền Nam Việt Nam, với một Quân Đội hùng mạnh nhất Đông Nam Á, lại bị thất trận bởi những tên đầu đội nón cối, chân mang dép râu, lưng lại tòng teng, lòng thòng thêm gói cơm vắt, ngang thắt lưng.

Xong khóa Hội Thảo vào ngày 7 tháng 4 năm 75, tôi hối hả đi mua vé máy bay về lại Đà Lạt thì vé đã bán sạch cả một tuần lễ trước rồi.
Suy đi tính lại, tôi đành phải mua vé vào ngày 10 /4/75.
Sáng hôm đó, tôi đến phòng bán vé của Hãng Hàng Không Việt Nam, nơi đây cho biết phi trường Liên Khương bị pháo kích, máy bay không thể đáp xuống được.
Tôi hấp ta hấp tấp , dội ngược về bến xe Sài Gòn-Đà Lạt, tôi hy vọng bằng phương tiện đường bộ, tôi cũng có thể về lại được Đà Lạt như mong muốn của tôi.
Nhưng các hãng xe du lịch, lẫn xe đò, đều ngưng chạy trên lộ trình đó. Hoảng hốt, tôi không biết phải làm gì trong lúc này.
Vừa lúc đó, cũng có vài thanh niên, lân la đến đề nghị với tôi:
– Cô đừng hoảng sợ, không việc gì đâu. Chúng tôi sẽ chở cô đến Định Quán và từ đó, cô đi bằng ‘xe lô’ về lại Đà Lạt.
(Xe-lô là xe Cyclo máy.)
Thân gái dặm trường, tôi sợ những manh tâm, nên không dám mạnh dạn giao phó sinh mạng mình cho ai, và tôi cũng không dám mạo hiểm trong trường hợp ngặt nghèo này, nên đành lui về nhà người bạn quen chờ đợi.
Vào những năm đó, các phương tiện liên lạc bằng điện thoại cũng rất khó khăn.
Đường giây liên lạc viễn thông chỉ ưu tiên cho các cấp chính quyền và các đơn vị quân đội.
Vào thời gian đó, tôi cũng chẳng liên lạc được với giáo sư Minh ở Viện Đại Học Đà Lạt.
Chỉ có một lần duy nhất, tôi liên lạc được với Tuấn, anh ấy khuyên tôi không nên về Đà Lạt vào thời gian này, vì Đà Lạt cũng đang chuẩn bị di tản bằng đường bộ xuống Phan Rang và từ đó sẽ vào Sài Gòn.
Anh còn hứa với tôi, anh sẽ theo đoàn xe của Trường Võ Bị Quốc Gia và sẽ chở theo giáo sư Minh đi cùng với mẹ tôi về Sai Gòn.

Sài Gòn bắt đầu chộn rộn, kẻ ngược người xuôi, hỗn loạn… Ai ai cũng muốn bỏ chạy ra nước ngoài bằng mọi cách vì có tin đồn Việt Cộng đến đâu, họ rút hết các móng tay của các cô gái xinh đẹp, nên ai cũng khiếp sợ.

Cá nhân tôi khi vào Sài Gòn chỉ mang theo một ít hành trang đủ dùng trong vòng nửa tháng, nào ngờ tình thế không thể lường trước được, nên số tiền tôi mang theo cũng cạn dần.

Sáng ngày 30/4, vào khoảng 11 giờ, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện”.
Tôi sửng người đi trước tin buồn và như một người không còn biết mình phải làm những gì nữa; mà tôi chỉ biết sững sờ chạy theo cô bạn học ngày xưa.
Chúng tôi chạy theo dòng người ra bến Bạch Đằng và chen lấn leo lên được một chiếc tàu buôn sắp nhổ neo.

Vào được ‘boong tàu’, tôi sững sờ biết mình mất tổ quốc thân yêu. Tôi mất Tuấn, mất luôn cả Mẹ và mất luôn cả vị giáo sư Minh, người lúc mới gặp, tôi không hoàn toàn tin tưởng nhiều lắm về ông, nhưng càng ngày ông càng thể hiện lòng tốt của ông đối với tôi, nhất là ông luôn luôn muốn cho Tuấn và tôi hạnh phúc với nhau suốt đời.

Cuối cùng tôi cũng được tỵ nạn tại Mỹ, và được ngài Thống Đốc của Tiểu Bang Washington nhận trong số 100 người tỵ nạn đầu tiên tại tiểu bang Washington.
Tôi theo cô bạn về thành phố Tacoma và sinh sống tại đây, từ ngày đó đến nay vừa tròn 42 năm lưu lạc xứ người.

Năm 1980. tôi liên lạc được với Mẹ bằng đường bưu điện giữa Mỹ và Việt Nam.
Mẹ tôi phải đến bưu điện Đà Lạt chờ hàng giờ, mới nói chuyện được với tôi.

Nghe tiếng nói của tôi, Mẹ chỉ khóc, trong khi đó tôi cũng sụt sùi năm ba phút.
Sau đó, Mẹ cho tôi biết, bà cũng vất vả vì không có tiền để chạy gạo hằng ngày, vì trước đó, tôi đã gởi tất cả tiền vào Việt Nam Thương Tín, và lẽ dĩ nhiên, số tiền đó đã mất trắng. Mẹ tôi lại phải bán khoai mì luộc trong các xóm lao động, nghèo nàn để nuôi thân … Mẹ cho biết người ta không có gạo để ăn, có ai còn dám ăn xôi đâu mà bán. Vì nếp để nấu xôi là hàng xa xỉ phẩm, bo-bo, củ mì, lá cây mì, đọt khoai lang là niềm tự hào của dân tộc, vì đất nước ta giàu mạnh, rừng vàng bể bạc, mà các nước khác chỉ phải gặm xương bò, xương heo, chứ không có bo-bo để ăn qua ngày.

Mẹ tôi cũng đã cho biết, Tuấn và cha chàng cũng bị tập trung cải tạo.
Đỉnh Sương Mù vì đồ sộ và chủ nhà đi vắng, nên bị nhà nước tịch thu. Mẹ tôi cũng cho biết, theo lời của những người làm cho giáo sư Minh kể lại:
“Biệt thư trên đường Công Lý của vợ giáo sư Minh cũng bị tịch thu và nhà nước đổi cho bà một căn nhà nhỏ của một chủ nhà bỏ trốn, bám chân Đế Quốc Mỹ chạy ra nước ngoài…
Còn biệt thự của Tuấn cũng bị tịch thu vì vắng chủ.
Riêng hoàn cảnh của mẹ tôi còn vất vả hơn trước 75 rất nhiều.
Lần nói điện thoại đó, tôi bị trả trên $150 đô-la Mỹ.
Vào những năm đó, Mỹ và Viêt Nam chưa bang giao, nên Chính Phủ Hoa Kỳ chưa cho phép người tỵ nạn tại Mỹ gởi tiền về Việt Năm để giúp đỡ người thân, còn kẹt lại Việt Nam, nhưng Canada thì cho phép người tỵ nạn gởi tiền công khai về Việt Nam.
Tôi nhờ vài người bạn cũ tại Canada gởi tiền về cho mẹ tôi, nên bà bắt đầu bớt khổ.
Tôi nhờ mẹ tôi đi thăm nuôi anh Tuấn và giáo sư Minh, và nếu có thể được nên giúp đỡ bà Minh.
Mẹ tôi, qua những lần thư từ vào năm 1980, tôi được biết Tuấn và giáo sư Minh bị tù cải tạo tại A.30.
Riêng Mẹ tôi cũng không biết tin tức gì về bà Minh.
Năn 1981, tôi từ Mỹ, qua Canada về Việt Nam thăm Mẹ và luôn dịp đó tôi đi thăm Tuấn và giáo sư Minh tại trại tù A.30.

CHƯƠNG MƯỜI LĂM
Hành Trình Gian Khổ

Về Việt Nam thăm Mẹ đuợc vài ngày.
Tôi tìm cách đi thăm Tuấn, nên tôi liên lạc được với một vài người vợ tù và được các chị hướng dẫn thủ tục thăm nuôi phải như thế nào?
Vấn đề khó khăn nhất là muốn đi thăm tù cải tạo, phải có “GIẤY XIN PHÉP THĂM NUÔI” của địa phương cấp.
Họ chỉ cho vợ hoặc chồng, hay cha mẹ người tù cải tạo mới được cấp phép đi thăm nuôi.
Mẹ tôi và tôi không đủ điều kiện để được chính quyền địa phương cấp phép.
Tôi bắt đầu chán nản vì giữa Tuấn và tôi, mới đơn thuần chỉ là tình yêu đôi lứa, chưa phải là vợ chồng …
Hồi đó, đôi khi xương tủy tôi cũng réo gọi mà thân xác chờn vờn, buông thả nhưng tôi kịp dùng lý trí để kiềm hãm con tim và đôi khi trong cơn mê say này, bỗng dưng Tuấn dừng lại … mắt chàng hun hút nhìn tôi.
– Anh không làm gì để em sợ đâu!
Chúng tôi lúc nảo cũng quấn quít bên nhau nhưng hồn tôi tôi giữ.
Trở lại việc thăm nuôi Tuấn. Tôi nghĩ chỉ còn có cách tìm cho ra mẹ Tuấn để làm hòa với bà, thuyết phục bà làm đơn xin phép địa phương để bà cùng đi thăm nuôi chồng bà Giáo sư Minh và Tuấn, lẽ dĩ nhiên trong đơn bà phải trình bày tôi là vợ chưa cưới của Tuấn.
Nhưng bà hiện nay ở đâu? Đó là vấn đề nan giải.
Tôi tìm đến nhà Vy, cô tài xế cũ của giáo sư Minh để hỏi thăm tin tức về mẹ của Tuấn.
May mắn, Vy ôm tôi vào lòng khóc nức nở. Tôi không thể nào tưởng tưởng, cô tài xế xinh đẹp, tuy hai con, nhưng ra đường vẫn còn xinh mà giờ đây như một bà già cằn cỗi đáng thương.
Tôi cho Vy một số tiền nhỏ và hứa khi trở về Mỹ sẽ tìm cách giúp đỡ Vy sau.
Được sự chỉ dẫn của Vy, tôi tìm đến nơi mẹ của Tuấn đang cư ngụ.
Tôi đứng tần ngần trước ngôi nhà của mẹ Tuấn được chính quyền hoán đổi.
Căn nhà tuy không to lắm nhưng cũng xinh xắn và tráng lệ, khang trang như những căn nhà khác trên đường Đồng Khởi.
Cổng sắt cũng đang khóa chặt, tôi trầm trồ suy nghĩ ‘cũng chẳng có sao đâu’ vì nếu hoán đổi được như thế này cũng lương thiện lắm rồi, không giống như tin đồn bên Mỹ, rằng thì là: ‘Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ ăn cướp nhà, chứ làm gì có việc trao đổi hay hoán đổi nhà đâu!’

Tôi đang tìm chỗ để bấm chuông, nhưng chuông đã bị tháo gỡ, chỉ còn trơ trọi mấy cọng giây điện nằm ngửa mặt nhìn trời xanh.
Tôi định gọi cửa, một cô gái trạc chừng 18 – 20, chệnh choạng đi ra, giọng the thé hỏi tôi:
– Tìm ai?
Thật ra, tôi không chuẩn bị câu trả lời thế nào cho ổn, vì từ trước đến nay, tôi vẫn gọi mẹ Tuấn, hay vợ của giáo sư Minh là Phu Nhân.
Nay bị cô gái, hất hàm, giọng lạnh lùng hỏi lại lần nữa:
– Tìm ai?
Tôi vội vàng đáp:
– Đây có phải là nhà giáo sư dạy thanh nhạc của Viện Âm Nhạc Sài Gòn không ạ.
Cô gái đỏng đa đỏng đảnh hỏi lại tôi:
– Viện nào? Nghệ nhân nào?
Tôi không biết trả lời sao. Cô gái lại giải thích thêm:
– Hỏi nghệ danh nào?
Thật tình, tôi không quen những từ ngữ của nhà nước ta như phường phe phẩy, hoành tráng … nên còn đang phân vân. Cô gái mếch môi nói:
– Ở đây chỉ có một hộ của nghệ sĩ nhân dân phường chèo … và còn có một hộ phụ của một ‘trí thức tư bản. Vậy muốn hỏi Nghệ nhân Hà Nam Ninh hay mụ trí thức tư bản. Tư duy tôi rất nhạy bén, nên trả lời
ngay:
– Xin cho tôi gặp người đó!
Cô gái soi mói nhìn tôi rồi hỏi:
– Ở Mỹ về hả?
Tôi còn lừng khừng chưa biết trả lời sao! Cô gái nói:
– Xin quý khách vui lòng đứng đợi dăm ba phút. Nói xong cô gái quắp chân , mặt quằm quặm nhìn tôi, rồi rảo nhanh vào nhà.
Một chập lâu sau, một cụ bà từ một đường luồng bước ra. Tôi nhận ngay ra là Phu nhân ngày nào!
Tôi khẽ gọi Phu nhân, rất nhỏ, chỉ vừa đủ để bà nghe.
Giữ thái độ dè dặt trước một vấn đề chưa rõ, bà cụ hơi nghễnh ngãng hỏi tôi:
– Ai đó? Sao gọi tôi là Phu nhân?
Tôi đáp nhỏ, gần như thì thầm, bên tai bà:
– Con là Hạ Hạ. Học trò cũ của giáo sư Minh và cũng là bạn của anh Nguyễn Hoàng Tuấn đây!
Tôi thấy ánh mắt bà sáng lên, long lanh như gợi nhớ.
Tay bà run run mở chốt khóa cửa sắt cho tôi vào.
Bà đi trước, tôi theo sau, xuyên qua một đường luồng cũng khá rộng, chạy thẳng ra phía sau.
Vừa bước vào chỗ ở của bà, tôi ngỡ ngàng vì trong căn phòng phía sau, tuy cũng khá rộng, nhưng chỉ có một cái giường gỗ, trải chiếc chiếu cũ, còn treo lòng thòng một cái mùng lốm đốm máu của muỗi.
Tôi nhìn lên cái bàn gỗ, kê sát tường, mấy củ khoai lang luộc, đang nằm thi thố như một biểu tượng của dân giàu nước mạnh.

Căn phòng bà đang sinh sống, có lẽ trước đây là phòng của người giúp việc. Nay cả căn nhà này cũng bị nhà nước tịch thu. Hộ phía trước rất hoành tráng (chữ nghĩa V.C), được chính quyền cấp phát cho một gia đình nghệ nhân phường chèo. Còn phòng của bà Minh, cũng được quân thắng trận, hoán đổi với một biệt thự đồ sộ, của phe thua trận.
Tôi nhìn trên tường đang treo 2 tấm ảnh vàng ố của Giáo sư Minh, còn cái kia là ảnh của Tuấn, mặc áo sơ-mi tay ngắn, trông rất trẻ trung.
Tôi bùi ngùi xúc động.
Tôi nhìn Phu nhân của tôi ngày xưa, giờ chỉ còn là cái xác không hồn, mặt mày phờ phạc như người nhiều đêm không ngủ.

Tôi không biết từ lúc bà đưa tôi vào đây đến giờ, bà có nhận ra tôi không vì tôi chưa thấy bà có một cử chỉ gì thân mật hoặc tự ti mặc cảm gì.
Bà giữ im lặng mãi cho đến khi tôi cầm hai tay bà nâng niu rồi hỏi:
– Phu nhân có khoẻ không? Sao Phu nhân ra nông nỗi này?

Bà dường như rất ngạc nhiên, nhìn tôi đăm chiêu, hỏi:
– Ai mà gọi tôi là Phu nhân vậy?
Tôi đáp:
– Con đây này! Hạ Hạ nè! Phu nhân không còn nhận ra con sao?
Bà dường như đang nhớ lại chuyên xa xưa.
Mắt bà ngấn lệ, vài giọt buồn rơi trên má. Thoáng chốc bà đưa ngón tay trỏ lên môi, ra dấu cho tôi giữ im lặng.
Tôi hiểu vì bà sợ những danh nhân của đất nước, những nữ du kích, tay vạch vú cho con bú, tay kia dùng súng trường bắn vận tải cơ khổng lồ B.52 của Đế Quốc Mỹ rơi ngay cửa mình!
Vì tôi vẫn nghe tiếng cười hô hố phát ra từ căn nhà trên, vì phòng của bà chỉ được ngăn bằng một tấm carton mỏng để làm ranh giới giữa kẻ thắng và người thua.
Biết vậy tôi nói nhỏ với bà:
– Mình ra phố, tìm một nơi nào an toàn để con có thể thưa chuyện với phu nhân.
Bà gật đầu, tỏ ý ưng thuận.

Ra khỏi nhà, tôi gọi một chiếc xe Cyclo, chở chúng tôi đến một nhà hàng khá lớn, để dễ trò chuyện. Vì các hàng quán nhỏ khác, các bàn kê gần như khít với nhau, tôi e ‘tai vách mạch rừng’
Đến nơi, tôi tìm một bàn nhỏ kê cuối phòng, vừa đủ hai người ngồi.
– Bà cũng hiểu ý tôi. nên khi cả hai vừa ngồi xuống, bà lên tiếng trước:
– Hạ Hạ con về đây hồi nào? Con bỏ qua những lỗi lầm của ta nghen con!
Tôi thưa:
– Con đã về đây tìm Phu nhân, lẽ nào con còn nhớ đến chuyện xưa cũ nữa đâu!
Tuy gần sáu năm sống trong cảnh bần hàn nhưng bà vẫn giữ được cách phong lưu, khi tôi hỏi bà thích ăn món gì?
Bà nhìn thực đơn, và chỉ vào:
– Cho ta Pa-tê, thịt nguội ăn với bánh mì xắt lát mỏng. Lâu quá ta cũng thèm các thứ này.
Tôi hỏi bà:
Phu nhân uống gì?
Lúc đầu bà buột miệng:
– Trà đá!
Vừa nói xong, bà đưa bàn tay phải đập nhẹ vào mặt bàn như ra lệnh cho tôi dừng lại, bà thong thả nói:
– Đừng gọi ta là Phu nhân nữa!
Sau đó bà tiếp:
– Cho ta Milk-coffee. Mấy năm nay ta chưa được uống lại các thứ này!
Tôi gọi thêm một vài món nữa cho tôi và một vài món khác cho bà.

Sau khi người bồi bàn gái vừa cung kính nhìn tôi vừa nhìn xoi mói người ngồi đối diện tôi, rồi quay đi.
Tôi lễ phép hỏi bà:
– Phu nhân không cho con gọi bà là phu nhân …(tôi ngập ngừng), Vậy con gọi Phu nhân là gì đây:
Bà từ tốn:
– Gọi ta là cô hay gọi ta là gì cũng được nhưng đừng gọi ta là Phu nhân nữa. Không khéo ta cũng bị đi tù như anh Minh và Tuấn!

Nhân lúc này, tôi hỏi bà:
– Thưa cô đã đi thăm Giáo sư Minh và anh Tuấn mấy lần rồi?
– Bà ngạc nhiên, hỏi lại tôi:
– Hạ Hạ, con không biết thật sao?
Anh Minh đã chết trong trại tù rồi.
Bà kể tiếp:
– Mấy ổng tiếp thu thành phố Đà Lạt vào khoảng giữa tháng 4/75. Họ nhốt anh Minh và Tuấn tại Ty Công an tỉnh Lâm Đồng. Anh Minh bị bệnh kiết lỵ và không có thuốc trị liệu nên anh đã chết trước khi Tuấn bị đưa ra trại A.30.
Tôi như bị nghẹn thức ăn trong cuống họng. Tôi cố nuốt và vội vàng hỏi bà:
– Còn anh Tuấn ra sao cô? Cô thăm anh được mấy lần và sức khoẻ của anh ra sao?
Bà nhìn tôi phân trần:
– Cô không có đi thăm Tuấn một lần nào đâu con.
Rồi bà chưa kịp để tôi hỏi: Tại sao?
Bà đã giải thích:
– Tiền đâu mà đi thăm Tuấn được con?
Tôi hỏi:
– Ngày xưa cô giàu lắm mà?
– Đúng vậy! Tiền mặt cô đều gởi vào quỹ tiết kiệm, không rút kịp ra được, nhưng dẫu có rút ra được cũng mất trắng thôi!
Tôi hỏi tiếp:
– Còn vòng vàng, kim cương, hột soàn của cô đâu.
– Ta biết thế nào chúng cũng vào nhà khám xét. Ta lanh tay đào một chỗ bí mật trong ngôi biệt thự trên đường Công Lý để chôn giấu những thứ đó. Nào ngờ chỉ một thời gian sau, chúng ụp vào, kiểm kê tài sản của cô, đuổi cô ra khỏi nhà và hoán đổi cho cô, chỗ mà con vừa đến đó.
Còn biệt thự của ta, sau đó là một viên chức ngành công an nào đó chiếm ngụ. Cô không rõ nhưng cửa trước, ngõ sau đều có lính gác. Thế là cô mất trọn sự nghiệp mà cô đã gầy dựng gần cả 45 năm trời. Cô bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng.
Con nghĩ như vậy thì lấy tiền đâu mà cô đi thăm nuôi Tuấn.
Tôi đề nghị với bà ngay:
– Con còn 3 tuần nghỉ phép nữa, sau đó con phải trở về Mỹ. để làm việc. Con muốn cô xin phép địa phương để cùng đi thăm anh Tuấn với con.
Nét mặt bà rât hân hoan, bà không do dự và đồng ý ngay.
Nhưng chừng vài phút sau, bà hỏi tôi:
– Nhưng sợ cô không có sức khoẻ để cùng đi với con đấy!
Tôi giải thích cho bà yên tâm:
– Con sẽ mướn xe du lịch 4 chỗ ngồi, để đưa cô và con đến tận nơi. Cô đừng lo.
Bà suy nghĩ một hồi lau và dường như bà nhớ lại điều gì, quay lại nói với tôi:
– Nghe nói đâu xe phải dừng tại cổng gác để trình giấy tờ, rồi sau đó, nếu giấy tờ hợp pháp, hợp lệ gì đó, mình phải ngồi xe trâu vào chỗ thăm nuôi. Liệu Hạ Hạ có ngồi trên xe trâu được không?
Tôi suy nghĩ một hồi rồi hỏi lại bà:
– Thay vì dùng bò, họ dùng trâu để kéo xe phải không cô.
– Đúng vậy! Nhưng chúng mình phải ngồi bệt xuống sàn gỗ.
Bà còn kể tiếp:
– Nghe chị em đi thăm nuôi chồng về kể lại cho nghe: Khi trâu kéo xe đi gập gềnh, người này phải vịn lấy người kia, thảm thương lắm đó.
Tôi hỏi lại:
– Còn cách nào khác không cô?
– Chỉ có một cách duy nhất đó thôi!
Tôi nhìn bà hỏi thăm dò:
– Cô nghĩ ra sao? Liệu cô có chịu đựng được không?
– Chắc chắn là cô cũng phải cố gắng chịu đựng gian khổ vì tình máu mủ mẹ con mà.
Sau đó bà nhìn tôi có vẻ ái ngại:
– Còn Hạ Hạ, con nghĩ sao.
Tôi thương bà vô cùng. Tiếng ‘con’ của bà nói rất âu yếm như tình thân nói chuyện rất mặn mà như lần đầu bà gặp tôi tại Đỉnh Sương Mù: “Hạ Hạ, con đó sao?
Tôi như muốn bật khóc. Nếu như không phải chỗ công cộng đông người, tôi đã ôm bà thật chặt, để tỏ lòng biết ơn bà.
Như một phản ứng tự nhiên, tôi nắm lấy tay bà, khi bà đang đưa ngón tay vào tách trà, bà xoay tách nhẹ nhàng, quý phái của thuở nào còn xót lại trong bà.
Tôi xiết chặt lòng tay bà và bà cũng đang siết chặt bàn tay tôi. Rồi cả hai chúng tôi im lặng nhưng nước mắt tự dưng ướt mi.
Nhớ lại câu hỏi của bà mà tôi chưa kịp trả lời, tôi đáp:
– Dù vất vả hay vặt vãnh như thế nào, con cũng cố gắng thăm anh Tuấn cho được.

CHƯƠNG MƯỜI SÁU
XIN PHéP THĂM NUÔI

Bà viết đơn xin chính quyền địa phương đi thăm nuôi con với tư cách là mẹ ruột và kèm theo tên tôi là vợ chưa cưới của Tuấn.
Chúng tôi đến công an Phường nơi bà đang có hộ khẩu thường trú tại Sài Gòn nhưng nơi đây từ chối vì anh Tuấn, trước 1975, làm việc cho Mỹ Ngụy tại Đà Lạt, Tuyên Đức nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, nên họ bảo về Lâm Đồng xin phép.
Chúng tôi lại vội quay về Đà Lạt, trình đơn xin phép thăm nuôi. Sau một hồi xét đơn, họ bảo bà không có hộ khẩu thường trú ở Đà Lạt, vậy nên về lại thành phố H.C.M để nơi đó xét duyệt.
Thế là xong. Nơi này bảo nơi kia. Nơi kia kại bảo nơi nọ.
Tôi và bà đành lui về nơi mẹ tôi đang cư ngụ.
Sau khi nghe chúng tôi kể lại câu chuyện, mẹ tôi liền nói:
– Đồng tiền đi trước. Việc nước theo sau.
Mẹ tôi đề nghị, đưa đơn cho bà, kèm theo ‘tiền nước đi trước là đồng tiền khôn.’
Khi ba chúng tôi vừa bước vào phòng Công an Phường, người công an ngồi trước cửa bước vào, hất hàm hỏi:
– Đi đâu đây các bà?
Mẹ tôi nhanh chân tiến sát vào bàn nói thật nhỏ vừa đủ cho người ấy nghe.
– Xin cán bộ giúp giùm, gia đình chúng tôi biết ơn cán bộ nhiều.
Cùng lúc ấy, một bì thư nằm phía sau cái đơn.

Hành động rất chuyên nghiệp, người công an này hất nhẹ bì thư xuống ngăn kéo, rồi vui vẻ nói với mẹ tôi:
– Tôi đã xem kỹ lá đơn này rồi, nhưng bà là ai, quan hệ gì với người đang học tập cải tạo?
Mẹ tôi trình bày:
– Tôi là mẹ vợ tương lai của con rể tôi. Bà nhanh nhẹn trình bày thêm:
– Hai đứa nó chưa làm đám cưới thì chồng nó được chính quyền địa phương cho đi học tập, để trở thành công dân lương thiện!
Hắn mở ngăn kéo, đưa tay vạch bì thư, hắn thấy số ‘tiền ‘đi trước’ khá nhiều, nên hỏi bâng quơ vài điều vớ vẩn nữa, rồi nguây nguẩy viết viết, và nguệch ngoạc ký.

CHƯƠNG MƯỜI BẢY
Nụ hôn lần cuối

Chúng tôi thăm dò vợ của một tù nhân chính trị, được chị Loan cho biết, nên mua những thứ gì.
Sau đó chị xin chúng tôi theo xe để cùng đi thăm chồng của chị, cũng đang bị giam ở A.30.
Các món thăm nuôi rất lỉnh ca lỉnh kỉnh nào là mắm ruốc xào sả ớt, kho cho thật mặn để giữ mắm được lâu ngày. Nào là me chín ngào với đường đen để giả làm xí muội. Nào là gạo, đường đen, bánh tráng.
Chị ấy còn căn dặn tôi đừng quên một bánh thuốc lào.
Tôi nói với mẹ tôi và mẹ anh Tuấn, anh ấy không hút thuốc, nên đừng mua món thuốc lào.
Chị Loan nhìn tôi thương hại, nên chị giải thích:
– Ông nào ông nấy, ai trước đây không hút, rồi vì lạnh và buồn, nên ai cũng tập tành hút thuốc lào, cho quên nỗi buồn. Hơn thế nữa, nếu anh ấy không hút, thì trao đổi những món ăn khác như củ mì, khoai lang hay bắp luộc.
Nghe chị nói rất có lý, nên tôi nói với mẹ tôi mua thêm bốn bánh thuốc lào và tôi cũng không quên cho chị ấy một ít tiền để phụ giúp chị đi thăm chồng.

Chị Loan, trong cách ăn mặc rất khổ, nhưng khi tôi giúp chị 500.000.00 ngàn tiền Hồ.
Chị rưng rưng nước mắt không nhận:
– Cô đã cho tôi quá giang theo xe là tốt lắm rồi. Chứ từ Đà Lạt xuống Phan Rang, tôi sẽ tốn biết bao nhiêu tiền. Rồi từ Phan Rang phải thuê phòng trọ để sáng sớm hôm sau bắt xe khách đi Nha Trang, rồi lại phải ngủ tạm phòng trọ, rồi phải xếp hàng từ 2 giờ sáng, để mua vé xe đi Tuy Hòa, nhiêu khê và tốn kém lắm cô ơi.
Do đó chị em chúng tôi đôi ba năm dành dụm mới đi thăm chồng được một lần.
Tôi hỏi chị:
– Sao mình không bỏ bớt khâu mướn phòng trọ cho đỡ tốn kém.
Chị đáp:
– Nếu được vậy thì còn nói gì nữa, cô ơi!
Tụi tôi mà ngủ gà ngủ gật tại bến xe, cũng phải tốn tiền cho tụi ‘bảo vệ’ bến xe hay tụi công an khu vực, đôi khi mất tiền còn nhiều hơn tiền mướn phòng trọ.
Chị Loan kể tiếp:
– Đôi khi mình còn bị tụi xã hội đen, bọn cướp giật, được sự bảo vệ của công an, chúng trấn lột, không còn gì để đi thăm chồng và cũng không còn tiền để mua vé xe về lại Đà Lạt… có người phải làm thuê, làm mướn dọc đường mới về được tới nhà, mới nghe tin, đứa con gái 14 tuổi ở nhà một mình, mà khi đi, người mẹ đã nhờ người láng giềng trông nom hộ, nào ngờ kẻ gian đã lẻn vào nhà, hãm hiếp đứa bé rồi bỏ đi…
Hai ngày sau, chúng tôi sắp sửa lên xe, trong khi đó mẹ tôi và vợ anh cải tạo, đang chất ‘quà thăm nuôi’, thì anh tài xế, đứng khoanh tay nhìn mà chẳng hề phụ với mẹ tôi.
Một chập lâu sau, anh vừa chỉ vợ người tù, hỏi:
– Chị cũng đi hả?
– Vâng! Tôi cũng cùng đi!
Sau đó, anh chờ cho mẹ tôi, chất đồ lên xe xong. Anh lẻng xẻng chùm chìa khóa, hất hàm , hỏi bâng quơ:
– Cò mụ già này có đi không?
-Không!
Mẹ tôi trả lời trống không với người tài xế.
Anh ta vội vàng cung kính đứng trước mặt tôi, thưa chuyện:
– Em biết cô từ Mỹ về, nên em mới thưa thật. Còn người khác thì em chẳng nói đâu! Hắn nói với giọng chả chớt:
– Cô không cho … cái bà kia đi theo… thì lấy ai chuyển hàng cho cô, từ chỗ xe đậu đến nơi xe trâu của trại tù chuyển tiếp, cách xa khoảng 100 mét. Em đi nhiều lần lắm rồi, nên em nắm vững qui trình từng nấc một đó cô. Vậy cô nên cho bà ấy đi cùng, có lợi cho cô hơn. Trông bộ bà ấy già nhưng lao động có chất lượng lắm đó cô!
Tôi hỏi lại:
– Mẹ tôi không có tên trong giấy phép thăm nuôi, làm sao đi được?
Người tài xế nhanh nhẩu trả lời:
– Được! Được tuốt tuột. Cô để em lo cho. Mấy thằng công an gác cổng, đói queo râu, nhét tay chúng vài đồng lẻ của cô, là qua cầu cái một.
Tôi mừng quá, nên hối mẹ tôi lấy thêm ít quần áo của bà, khóa trái cửa, kêu bà hàng xóm trông giùm nhà để cùng đi theo với chúng tôi.
Khi chúng tôi sắp sửa bước lên xe, người tài xế lại một lần nữa, thưa chuyện:
– Thưa cô, lúc làm hợp đồng thuê xe với công ty, nên văn phòng công ty chỉ cấp giấy phép và giới thiệu chuyên chở có 2 hành khách, nay tổng cộng 4 người.
Khi qua các trạm kiểm soát của công an giao thông, họ sẽ giữ xe lại để phạt tiền. Trước hay sau gì mình cũng phải đóng tiền phạt rồi họ mới cho xe đi.
– Em không lấy tiền của cô trước, nhưng mỗi lần xe qua trạm, họ khám xét rất kỹ, vì xe của mình khởi hành từ Đà Lạt, Lâm Đồng, nên họ khám xem mình có chuyên chở trà Bờ-lao / Blao không? Vì trà và cà phê là đồ quốc cấm. Nếu mình không chi cho mỗi trạm, họ kiếm cớ giữ xe thật lâu, có khi họ còn dùng dao, đâm thủng các gói hàng của mình để tìm đồ quốc cấm.
Tôi lặng thinh hàm ý là đã thuận.
Chúng tôi bắt đầu một cuộc hành trình thật gian khổ.
Càn nói rõ thêm, lúc làm hợp đồng thuê xe, tôi cứ tưởng, xe du lịch là loại xe nhỏ như xe Toyota hay La -Da- Lat thuở xưa. Nào ngờ khi người xế, đưa xe tới. Tôi mới nhận ra, đây là chiếc Citroen cũ kỹ mà ngày xưa làm xe đò chở hành khách đi từ Đà Lạt đến Trại Mát . Xe chạy bằng xăng, chở khoảng 12 hành khách.
Nào ngờ, nay được các nhà đón đầu khoa học kỹ thuật , các kỹ sư đỉnh cao của trí tuệ, có sáng kiến phát huy, cải tiến xe này chạy bằng than. Đó là một thành tựu vượt bậc của các con người sinh ra giữa lòng cái nôi vũ trụ, thông minh nhất loài người.
Xe được biên cải thành hai phần. Nửa phần đầu được phân chia với nửa phần sau, bằng một tấm ván ép của Đế Quốc Mỹ bỏ lại và được chính quyền cũ của thời phồn vinh giả tạo dùng để cất các trại gia binh. Nay được kách mệnh không bỏ xót một vật tư nào, để làm cho nước mạnh dân giàu hơn mười lần…khi còn chiến tranh.
Nửa phía sau, cũng lại được ngăn làm đôi, một phần để chất va-ly hay tư trang của khách mang theo. Nhưng phần ngăn cách này, lại được thiết kế bằng một miếng tôn gợn sóng, để những tia lửa hay khói khỏi bay lên phía khách ngồi.
Còn ngăn cuối cùng là một lò than cháy rực, cộng với vài thùng than đá, cũng được làm bằng tôn, có nắp đậy, để lửa khỏi bắt cháy.
Thật là một kỳ công kách mệnh của nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà chưa có một nước tư bản nào có khả năng kiến tạo như đảng ta.

Xe bắt đầu nổ máy. Tôi nhường băng ghế đầu cho Mẹ anh Tuấn.
Tôi ngồi băng ghế sau, cạnh mẹ và phía bên kia là chị Loan, vợ của người tù cải tạo.
Xe chạy được một khoảng đường, khói và những tia lửa thổi ngược về phía đầu xe, tôi thấy ngộp nên bảo anh tài xế mở cửa xe cho thoáng.
Anh nhìn ra sau chỗ tôi ngồi:
– Cô muốn các tia lửa đốt cháy quần áo của cô sao?
Tôi đành làm thinh. Nhưng càng lúc tôi càng thấy khó thở, nên đề nghị với anh:
– Anh vui lòng mở hé cửa thật nhỏ thôi. Chỉ cần một kẽ hở để không khí lọt vào bên trong, cho tôi đỡ ngộp.
Anh lại quay ngược ra sau nhìn tôi, giải thích.
– Khói mà cô, kẽ hở nào nó cũng xông vào được và bay lung tung beng càng làm cô khó thở hơn.
Anh nhìn lại phía trước vì xe sắp trượt ra bờ ruộng.
Sau đó, anh lại quay cổ ra sau, nhìn tôi rồi nói tiếp:
– Xe sắp ra khỏi thành phố, và phải dừng lại tại trạm kiểm soát lưu thông và công an kinh tế kiểm tra đồ quốc cấm.
Lúc đó xe phải dừng lại, em sẽ mở toang hết cửa cho cô và ba bà kia thở…
Chừng vài phút sau, một trạm kiểm soát, nằm phía phải con đường. Tài xế dừng lại sau một đoàn xe chở gỗ. Anh ta mở cửa xe rồi quay kính xuống, Tôi định bước ra ngoài, để hít thở không khí.
Người tài xế ngăn tôi lại và căn dặn chúng tôi:
– Quý khách vui lòng đừng rời khỏi xe, vì công an quy định như thế. Nếu bước ra khỏi xe mà họ thấy thì mất thì giờ lắm đó. Tôi đành ngả đầu ra khỏi cửa xe, gió thổi nhè nhẹ, người tôi thấy khoẻ ra.
Lần lượt, tài xế mang giấy tờ chạy vào trạm kiểm soát.
Người tài xế, trước khi chạy đi trình giấy tờ, lại hỏi chúng tôi:
– Có ai mang cà phê và trà trong hành lý của mình không.
Mẹ tôi lên tiếng:
– Có!
– Bao nhiêu? Nhiều không?
Mẹ tôi đáp:
– Nửa ký trà và nửa ký cà phê.
– Người tài xế nghiêm sắc mặt, thở ra.
– Trước khi đi, tôi quên dặn các bà. Cà phê và trà là đồ quốc cấm. Không những bị tịch thu và còn bị phạt gấp 3 lần trị giá của trà và cà phê.
Người tài xế, sợ chúng tôi chưa hiểu, nên giải thích thêm:
– Ví dụ: Nửa ký cà phê là 300.000.00 ngàn thì sẽ bị phạt là 900.000.00 ngàn đó.
Nhưng đã lỡ mang theo thì khi quản lý thị trường hay công an kinh tế 3 có hỏi, thì cứ nói thiệt là có mang 2 thứ đó. Chứ bọn nó ngửi còn nhanh hơn chó huấn luyện, nghe không?

Lúc bấy giờ tôi mới lên tiếng. Khi họ hỏi, mẹ cứ để con trả lời. Mẹ đừng nói gì cả.
Vừa lúc đó, đến lượt xe chúng tôi. Người tài xế nhanh chân chạy vào trạm và một chập lâu sau. Anh hốt hoảng chạy ra.
– Xe mình bị giữ lại rồi. Hợp đồng thuê xe thì chỉ có 2 người. Nay trên xe 4 người, nên xe bị giữ lại để điều tra.
Tôi phải lái xe qua lề trái, để xe sau tiến lên.
Nói xong, anh lái xe qua lề trái. đứng đợi.
Sau khi khám xét 5 chiếc xe còn lại xong, hai người tiến đến xe chúng tôi. Một người là công an giao thông. Còn người kia mặc đồ đồng phục màu xanh đậm, đó là Quản lý thị trường.
Viên công an giao thông, người cao, quần áo lũn cũn, râu ria lún phún, mặt như hung thần, hỏi:
– Ai đi không có giấy tờ đâu?
Cả 4 chúng tôi ngồi im lặng vì chúng tôi ai cũng nghĩ, minh có giấy tờ tùy thân.
Một chập lâu sau, hắn biết mình, hỏi không rõ nghĩa, nên hỏi lại:
– Hai người không có tên trong bản hợp đồng thuê xe là ai? Đâu? Ra khỏi xe!
Mẹ tôi và chị Loan bước ra khỏi xe.
Hắn gằn giọng:
– Bước qua bên kia đứng, tôi sẽ tính chuyện sau!
Hắn lại chỉ gậy vào mẹ anh Tuấn:
– Còn bà già này đi đâu?
Bà đáp lịch sự:
– Tôi đi thăm con tôi.
Hắn hỏi:
– Ngụy quân hay ngụy quyền?
Bà đáp:
– Giáo sư! Tôi không biết nó làm việc cho chính quyền hay quân đội.
Hắn hét lớn:
– Sáu năm rồi mà không thuộc chính sách nhất quán của nhà nước ta!
Bà ung dung đáp:
– Một sớm, một chiều, làm sao thấu triệt chính sách của đảng được!
– Hắn vặn hỏi:
– Cho xem giấy phép thăm nuôi?
Tôi lên tiếng:
– Giấy đây này, quý ông!
Người công an đi ngược về chỗ tôi đang ngồi.
– Em cho xem giấy tờ?
Tôi lấy I.D đưa cho hắn.
Hắm hỏi:
– Em tên Ha?
Tôi đáp: – Tôi tên Hạ Hạ.
– Sao trong này không bỏ dấu nặng. Làm tôi cứ tưởng như tiếng cười ha-ha!
Tôi không giận vì tôi hiểu rõ, tuyệt đại đa số công an nhân dân chưa ai học qua lớp 9 Trung Học phổ thông, thì lẽ tất nhiên chỉ hành xử như thế thôi.

Chàng ta quay lại chỗ của mẹ tôi và vợ anh tù cải tạo đi theo tôi:
– Cho xem Chứng Minh Nhân Dân?
Cả hai đều trình Chứng Minh Nhân Dân!
Hắn quát:
– Lấy tư trang ra khỏi xe và theo tôi! Mau lên.
Thấy vậy, người lái xe nhìn tôi rồi ra dấu ‘chìa tiền cho cá nuốt’ mới qua khỏi tai nạn.
Tôi hỏi vội:
– Bao nhiêu?
Hắn đáp:
– Vài trăm ngàn một người.
Tôi vội bước xuống xe, gọi theo:
– Anh ơi!
Hắn đứng lại, tôi tiến đến gần:
-Bà cụ này là mẹ tôi. Còn cô này là người hàng xóm của mẹ tôi. Xin anh thông cả,, bỏ qua. Tôi chìa cho hắn 400.000.00 ngàn đồng.
Hắn hỏi công khai, không e dè chút nào:
– Bao nhiêu đó?
Tôi đáp: 400.000.00 đồng.
Hắn nói: – Thêm chút đỉnh đi!
Tôi vui vẻ, lấy thêm 100.000.00 đồng nữa trao cho hắn.
Hắn bỏ vào túi, trả lại Chứng Minh Nhân Dân; rồi nhảy qua xe khác làm việc.

Bây giờ đến tên Quản lý thị trường. Mặt mày hắn cau có nhưng nét mặt như hiền hòa.
Hắn hỏi:
– Trong tư trang, có cà phê và trà không?
Tôi lên tiếng:
– Có nửa ký trà, nửa ký cà phê.
Hắn vặn vẹo hỏi tôi:
– Chị không biết đó là đồ quốc cấm sao?
– Biết chứ!
Hắn gằn từng tiếng:
– Biết! Sao lại dám chuyên chở, đồ quốc cấm?
Tôi bình tỉnh, đáp:
– Tôi mua tại cửa hàng quốc doanh của nhà nước, thì tôi có quyền mang theo chứ!
– Không được! Tôi phải tịch thu và tha cho chị khỏi bị đóng phạt, đó đã là tình cảm lắm rồi!
Tôi hỏi hắn:
– Sao các anh không đến cửa hàng quốc doanh mà tịch thu, rồi phạt vạ. Chứ cửa hàng bán ra thì phải có người mua.
Tôi mua mang đi để biếu cho Ông Giám Đốc Công An trại tù A.30. Tháng trước đi thăm chồng, ông ấy có nhờ tôi mua giùm 2 thứ đó. Nay các anh tịch thu, xin cho tôi biên bản tịch thu, để đưa cho ông ấy xêm, để tôi khỏi bị mang tiếng là người không giữ đúng lời hứa.
– Nhưng cà phê và trà, chỉ được lưu hành trong Tỉnh nhà thôi mà! Sao chị lại mang ra khỏi địa bàn của Tỉnh?
Tôi bình tĩnh đáp:
– Ủa! Tôi có mang ra khỏi ranh giới của Tỉnh Lâm Đồng đâu?
– Đây là trạm kiểm soát đầu tiên của Thị Xã Đà Lạt mà!
Anh chỉ được phép bắt khi cà phê và trà ra khỏi địa bàn của tỉnh Lâm Đồng thôi!
Hắn cũng không vừa:
– Nhưng chị đi Tuy Hòa, đến trại A.30 thì có phải là chị chuyên chở hàng quốc cấm ra khỏi địa bàn của Tỉnh Lâm Đồng không?
Tôi nói:
– Sao anh biết, tôi sẽ mang ra khỏi ranh giới của tỉnh Lâm Đồng?
– Đây này, anh nghe tôi nói:
– Xe này sẽ ghé lại Thị Trấn Sông Pha. Tôi trao lại cho Đồn Công An Sông Pha, nơi đó con trai của ông Giám Đốc Trại Tù A.30, đang là Công An Trưởng của Thị Trấn Sông Pha!
Hắn đuối lý, mặt hậm hực bỏ đi vì tiếc đã để mất dịp may ngồi nhìn cà phê hai từng lầu, cái nồi ngồi trên cái nắp vung.

Đà Lạt cách Phan Rang chẳng bao xa. Ngày xưa, có lần chúng tôi đi từ Đà Lạt xuống Phan Rang ăn cá biển tại Nại rồi trở về Đà Lạt trời chưa tắt nắng.
Nay sáng đi thật sớm, mà xe chạy cà rịch cà tang như thế này thì bao giờ mới đến Phan Rang để dùng cơm chiều và tìm khách sạn để ngủ đêm.

Nôn nóng rồi cũng đến. Chúng tôi đến ngã ba tam giác, tôi đề nghị với anh chàng tài xế, ráng chạy đến Nại để thưởng thức món ‘cá khoai nướng’ và thuê khách sạn để ngủ qua đêm.
Anh tài xế, gãi đầu:
– Thưa cô, bây giờ làm gì còn có khách sạn nữa cô. Chỉ có nhà nghỉ thôi.
Tôi ngạc nhiên, hỏi sao vậy?
– Phòng ngủ Hòa Bình nay là nhà nghỉ của khách du lịch nước ngoài.
Tôi nói:
– Thôi ngủ tạm lại đâu cũng được nhưng cho tôi đến cái quán gần đó, bên nay cầu Tri Thủy, để tôi được thưởng thức món cá khoai bùi bùi nghen!
– Cô ơi! Cá hố, cá rô Phi, cá nhám còn chưa có để ăn, tìm đâu cho ra cá khoai để ăn, cô ạ.
– Tôi tò mò:
– Ủa! Sao vậy?
– Lưới được con nào, nhà nước thu mua, khi thuyền chài chưa về đến bến, để trả nợ cho Nga-Tàu rồi. Còn gì mà bán cho dân ăn.
Mấy năm nay, nấu canh chua, cũng chỉ mua được xương cá Thu, cá Mú, chứ đừng hòng có đầu cá thu, đầu cá mú để bán ra ngoài cho dân ăn đâu cô ơi!
Cá bị lóc thịt ra trả nợ. Đầu cá thì quan to xơi. Dân ngu khu đen, công dân hạng hai, hạng ba … thì xương cá nấu canh chua cũng đã quá hạnh phúc lắm rồi cô ơi!

Đêm đó, chúng tôi định thuê 2 phòng đôi và 1 phòng chiếc.
– Một phòng đôi cho mẹ con tôi. Cái phòng đôi 2 giường cho mẹ của anh Tuấn và chị Loan. Còn cái phòng chiếc dành cho người tài xế. Nhưng khi ăn uống xong, chúng tôi mới biết là anh tài xế phải ngủ theo xe, vì lỡ kẻ gian đập kính xe, trộm luôn cả xe và hàng hóa trên xe thì thật là khốn khổ.
Nhưng tiền thuê bao đã trả, nhà nghỉ cũng không chịu trả lại tiền.
Tài xế hẹn với chúng tôi 2 giờ sáng phải thức dậy để 3 giờ khởi hành, đi cho kịp ra A.30 đúng vào chiều Thứ Bảy, vì trại chỉ cho thăm nuôi vào ngày Chủ Nhật thôi.
Trên lộ trình còn lại cũng gặp nhiều trắc trở nhung tôi chịu chi tiền, cũng đi được trót lọt.

Chiều Thứ Bảy đó, khi gần đến trại, xe phải đi từ bên nay cánh đồng qua bên kia dãy núi. Một vùng quê hẻo lánh với rừng núi hiu quạnh, làm tôi buồn héo gan héo ruột.
Mùa này nắng nhiều, hầu như cây cỏ đều chết cháy.
Đường vào trại, tôi bắt gặp nhiều tù nhân đứng chống cuốc, có người chống xà beng nhìn xe qua lại.
Tôi cố nhìn từng người tù, để xem có phải là anh Tuấn hay không?
Chị Loan đã cho tôi biết:
– Đó là những người tù hình sự, sắp mãn hạn án tù, và không chống đối chế độ, nên được cho làm lao động tự giác. Tuy nhiên trong số đó, cũng có một anh tù trật tự đôn đốc, chỉ huy. Chứ các tù nhân chính trị như chồng cô, chồng em, khi đi lao động, bọn quản giáo và công an bảo vệ, lúc nào súng cũng lên đạn, chĩa súng sau lưng.

Một toán tù khác đang chặt chuối chín, gồng gánh về trại.
Tôi hỏi chị Loan:
– Chặt chuối về cho các anh tù nhân ăn hả chị?
Chị Loan trả lời như trách móc:
– Không có cái màn đó đâu chị. Tù trồng chuối, trồng mít nhưng tụi nó ăn. Tù muốn ăn phải mua tại căn-tin.
Chị còn nhắc nhở tôi, nhớ cho anh Tuấn một ít tiền, để thèm món gì thì mua món đó tại căn tin như kẹo đậu phụng, kẹo dừa, bánh tráng, đường đen … đủ thứ.
Tôi nói: – Như vậy cũng tốt đó chứ!
Chị Loan biết tôi chưa hiểu, nên giải thích cho tôi hiểu cặn kẽ thêm:
– Tiền thì gia đình, thân nhân cho bao nhiêu, trại cũng cho nhận hết! Sau đó phải đăng ký để gởi vào trương mục của trại. Khi tù nhân muốn mua thứ gì, phải công khai đề nghị với cán bộ quản giáo sinh hoạt với lán hằng đêm. Quản giáo thấy người tù nào lao động siêng năng, làm vượt chỉ tiêu, mới giới thiệu với căn tin bán những thứ đó cho tù, mục đích là bồi dưỡng.
Do đó, rất nhiều tù nhân chính trị rỉ tai cho nhau nghe:
– Ở tù, làm việc tù, nhưng ăn cơm của vợ.
Chị Loan nói tiép:
– Để sáng mai thăm nuôi, chị sẽ thấy. Có nhiều bà vợ có thân nhân ở nước ngoài gởi tiền về, nên khi thân nhân đi thăm nuôi, thì ‘quà thăm nuôi’ rất hoành tráng, nào là bơ, sữa, gạo mà người tù khi nhận quà phải gánh nặng trĩu đôi vai.
Các anh em này còn khoẻ mạnh hơn trước khi đi tù. Vì ngày xưa chỉ ngồi văn phòng, đêm lại khiêu vũ nên mất sức. Nay được thăm nuôi đầy đủ, trại lại cho làm việc nhẹ quanh quẩn cả ngày trong trại. Do đó, các phái đoàn tham quan của nước ngoài thăm trại, sau khi họ về thì ca tụng chế độ dinh dưỡng của trại tù Việt Nam là đỉnh cao của lòng nhân từ mà họ chưa bao giờ thấy những tù nhân da bọc xương, chân đi khấp kha khấp khểnh, đang đào khoai, trồng mì ở nương rẫy, trông thật thảm thương, vì khẩu phần ăn của trại rất thiếu thốn, nghèo nàn, mà không ai thăm nuôi bồi dưỡng…
Nghe chị Loan nói, tôi hoảng hốt vì anh Tuấn không có ai thăm nuôi suốt cả sáu năm dài đằng đẳng.
Tôi khóc và ngủ quên trong chốc lát vì thời tiết về chiều se se lạnh…
Trong giấc mơ chập chờn, tôi thấy anh Tuấn ngồi cạnh tôi, trong một cái quán nhỏ, cái bàn trải khăn trắng, hai ly bia sủi bọt lăn tăn, trước mặt chúng tôi. Một dĩa thịt heo rừng, kích thích bờ môi.
Tôi dùng nĩa, gắp một miếng thịt rừng trao vào môi anh, anh chỉ cắn nửa miếng, nửa miếng thịt rừng còn lại, anh mớm cho tôi. Cuộc đời còn gì hạnh phúc cho bằng.
Tôi nghe thấy tình mình vẫn còn diệu vợi quá đỗi.
Xe qua một hố bom còn sót lại trong thời kỳ chiến tranh mà lục lộ chưa tu sửa, nên xe gập ghềnh, đầu tôi va vào vai mẹ. Giật mình tỉnh ngủ, tôi tiếc giấc mơ vô cùng! Và mong những giấc mơ thần tiên như thé cứ lập đi lập lại trong những lúc mộng du như thế…này!

(Còn Tiếp…..)

DX